Công chúa Ngọc Hân

Vuông Ngọc Hân Công chúa

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Địa điểm thờ tự:
Nguồn gốc:
  • Con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông
  • Danh nhân, nhà thơ cuối thế kỷ XVIII
Phủ / Nơi cai quản:
Danh hiệu:
  • Tục danh: Chúa Tiên
  • Thụ phong: Công chúa Ngọc Hân
  • Ngôi vị: Bắc cung Hoàng Hậu (Hữu cung Hoàng Hậu)
  • Thụy hiệu: Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu
Trang phục:

Công chúa Ngọc Hân là nhân vật thuộc hàng Nữ thần trong hệ thống Tứ Phủ

Xuất thân


Ngọc Hân công chúa là con gái thứ 21 của vua Lê Hiển Tông (1740-1786). Mẹ là bà Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền, người xã Phù Ninh, tổng Hà Dương, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh. Vua Lê Chiêu Thống gọi công chúa Ngọc Hân là cô ruột. Công chúa thông minh từ bé, diện mạo thanh tú, xinh xắn. Bản tính thùy mị dịu dàng. Được vua cha yêu quí đặt tên là Chúa Tiên và truyền cho nữ quan Lễ sư vào cung rèn cặp chữ nghĩa cho công chúa cùng dạy đủ môn: cầm, kỳ, thi, họa. Chưa đầy 10 tuổi, công chúa đã thuộc làu kinh điển, thông thạo âm luật, giỏi thơ văn cả Hán lẫn Nôm, nhưng có sở trường về văn thơ Nôm.

Nữ sĩ công chúa thường cùng bà Lễ sư khi ngâm vịnh xướng họa, lúc đàn sáo véo von, hoặc thù tạc vui quân tướng sĩ. Càng lớn, công chúa càng xinh đẹp nết na, duyên dáng đức hạnh, được tiếng thơm khắp hoàng cung; mọi người đều quý trọng.

Cuộc đời


Tháng 5/1786, tướng nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ ra Bắc với chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh”, được vua Lê Hiển Tông phong tước “Phù chính dực Vũ uy Quốc Công“. Diệt xong họ Trịnh, Nguyễn Huệ tới yết kiến vua Hiển Tông. Do sự mai mối của tướng Bắc Hà vào hàng Tây Sơn là Nguyễn Hữu Chỉnh, Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn Huệ. Khi đó bà mới 16 tuổi, còn Nguyễn Huệ 33 tuổi.

Sau hôn lễ con gái chẳng bao lâu, bỗng nhiên nhà vua bị bạo bệnh băng hà. Đợi xong thất tuần vua cha, công chúa Ngọc Hân theo chồng về Phú Xuân, ở phủ Bắc Bình Vương.

Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế trước khi ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng hậu. Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu. Bà có 2 con với Nguyễn Huệ là công chúa Nguyễn Ngọc Bảohoàng tử Nguyễn Quang Đức.

Năm 1792, Quang Trung đột ngột qua đời, Quang Toản là con bà Chính cung hoàng hậu Phạm Thị Liên (Bùi Thị Nhạn) lên thay, tức là Cảnh Thịnh đế. Theo bài “Danh nhân Lê Ngọc Hân” của Chu Quang Trứ, Lê Ngọc Hân đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong chùa Kim Tiền (Dương Xuân ở Huế) cạnh điện Đan Dương để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng 8.11 năm Kỷ Mùi (4.12.1799) thì mất, lúc đó mới 29 tuổi.

Ngày 18/11 năm Tân Dậu (23/12/1801) hoàng tử Nguyễn Quang Đức mất khi mới 10 tuổi, rồi ngày 17/4 năm Nhâm Tuất (18/5/1802), công chúa Ngọc Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi.

Sáng tác thơ ca


Sau tang lễ vua Quang Trung năm 1972, bà đau buồn âm thầm đặt riêng một lễ ở Hữu cung, đọc bài Văn tế tự soạn để khóc chồng! Thật là một chuỗi lâm li bi thiết, ví như:

“… Một phút mây che vừng Thái Bạch,

Trong sáu cung thoắt đã nhạt hơi hương.

Tơ đứt tấc lòng ly biệt.

Châu sa giọt lệ cương thường”…

Và:

“… Liều trâm thoa mong theo chốn chân dung, da tóc trăm thân nào có tiếc.

Ôm cưỡng bảo luống ngập ngừng di thể, sữa măng đôi chút lại thêm thương”.

 

Tiếp đó, bà còn sáng tác thêm “Ai tư vãn” bằng văn quốc âm, thể song thất lục bát, dài 164 câu. Toàn bài tác giả đã vận dụng lời lẽ thật tha thiết mà rất chân thành, rất xúc động từ câu mở đầu:

“Gió hiu hắt, phòng tiêu lạnh lẽo

Trước thềm lan hoa héo ron ron!

Cầu Tiên khói tỏa đỉnh non

Xe rồng thăm thẳm, bóng loan rầu rầu”

 

Lúc thì chạnh nghĩ mối duyên may mình đã được trải qua:

“… Rút dây vâng mệnh phụ hoàng

Thuyền lan chèo quế thuận đường vu quy

Trăm ngàn dặm quản chi non nước

Chữ nghi gia mừng được phải duyên

Sang yêu muôn đội ơn trên

Rỡ ràng vẻ thúy, nối chen tiếng cầm”…

 

Khi lo lắng thuốc thang cho chồng (vua Quang Trung):

“Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết

Xót mình rồng mỏi mệt chẳng yên

Xiết bao kinh sợ lo phiền

Miếu thần đã đảo, thuốc tiên lại cầu

Khắp mọi chốn đâu đâu tìm rước

Phương pháp nào đổi được cùng chăng?

 

Thoắt lại mơ tưởng lúc chồng vẫn còn sống:

“… Mơ hồ bằng mộng, bàng hoàng như say

Khi trận gió, hoa bay thấp thoáng

Ngỡ hương trời bảng lảng còn đâu

Vội vàng sửa áo lên chầu

Thương ôi, quạnh quẽ trước lầu nhện giăng”

 

Tác giả lại ngậm ngùi trách tạo hóa hẹp hòi… và tha thiết xin thay mạng:

“… Công dường ấy mà nhân dường ấy

Cõi thọ sao hẹp bấy Hóa công?

Rộng cho chuộc được tuổi rồng

Đổi thân ắt hẳn bõ lòng tôi ngươi”.

 

Rồi còn muốn liều thân:

“… Quyết liều mong ven chữ tòng

Trên rường nào ngại, giữa dòng nào e”

 

Nhưng còn vướng víu chỉ vì con nhỏ:

“… Còn trứng nước thương vì đôi chút

Chữ tình thâm chưa thoát được đi

Vậy nên nấn ná đòi khi

Hình dường còn ở, hồn thì đã theo;

 

Mặc dầu biết chắc còn sống thì sẽ nhiều khổ đau oan nghiệt:

“Phút giây bãi bể nương dâu,

Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?

Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng.

Nỗi đoạn trường còn sống còn đau! …”

Nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân mất sau vua Quang Trung 7 năm, được tôn Miếu hiệu là Như Ý Trang Thận Trinh Nhất Vũ Hoàng Hậu. Lúc đó triều đình cử danh sĩ Phan Huy Ích soạn 5 bài Văn tế bằng Quốc âm để tế Hoàng hậu Ngọc Hân. Đầu tiên là bài cho vua Cảnh Thịnh đứng tế, trong có đoạn:

“… Giọt ngân phái câu nên vẻ quí, duyên hảo cầu thêm giúp mối tu tề; Khúc thư châu thổi sánh tiếng hòa, khuôn nội tắc đã gây nền nhân nhượng”.

“Hồ đỉnh ngậm ngùi cung nọ, những rắp chìm châu nát ngọc vốn từng nguyền; Cung khôn bận bịu gối nao, ép vì vun quén quế lan nên hãy gượng.

“Nẻo thuở doành Hoàng phô vẻ, trau vàng chuốt ngọc vẹn mười phân; Trải phen bến Vỵ đưa duyên, phím sắc xoang cầm vây một thể.

“Dầu gót ngọc vui miền Tịnh độ, nỡ nào quên hai chồi lan quế còn thơ. Dẫu xiêm nghe mến cảnh Thanh Đô, nỡ nào lãng một bóng tang du hầu xế…”.

 

Còn lại 4 bài văn tế nữa, dành cho các vị:

  •  Mẹ Hoàng Hậu Ngọc Hân là Phù Ninh từ cung đứng tế.
  • Các công chúa con gái vua Quang Trung đứng tế.
  •  Bà con quê ngoại ở Phù Ninh đứng tế.

Theo Quách Tấn, trong “Dụ am văn tập” của danh sĩ Phan Huy Ích còn chép đầy đủ bài Văn tế Vũ Hoàng Hậu cùng năm mất của bà là 1799.

Thế nhưng lại có một vài nhà viết sử, văn học sử đã nêu hai giả thuyết khác nhau không có cứ liệu chính xác:

  • Nào là: “Ngọc Hân công chúa bị Gia Long bắt truyền nạp vào hậu cung! … và bà có thêm 2 con với vua Gia Long…”.
  • Nào là khi thành Phú Xuân thất thủ, Hoàng hậu Ngọc Hân cùng 2 con cải trang dắt nhau chạy vào Quảng Nam ẩn náu; ngay sau đó cả 3 mẹ con bị bắt và bị triều nhà Nguyễn gia hình được tự chọn cái chết trong tam ban triều điển! …”.

Xin nói niên lịch bà Hoàng hậu Ngọc Hân mất là năm Kỷ Tỵ (1799). Cách hai năm sau, Chúa Nguyễn Phúc Ánh mới lấy được thành Phú Xuân, đó là năm Tân Dậu (1801). Nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn năm Nhâm Tuất (1802). Như vậy bà Ngọc Hân không hề lấy vua Gia Long bao giờ, vì bà đã mất trước khi nhà Nguyễn chiếm ngự Phú Xuân.

Phần văn chương trong Ai tư vãn của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét: “… văn phong vừa điêu luyện vừa bình dị…”. Ta còn thấy rõ từng nét đau đáu tha thiết của một góa phụ trẻ trung vương giả. Mặt khác còn nổi bật tình nhà, tình nước, sểnh đàn tan nghé! Nỗi nước chông chênh!Và điều rõ nét nhất ta thấy được ở tác giả Ai tư vãn: bà đã chịu ảnh hưởng rất nhiều của Chinh phụ ngâm. Riêng bài Văn tế của nữ sĩ Hoàng hậu Ngọc Hân lại mang nặng tính chất bác học. Văn vẻ sắc bén vững vàng; chứng tỏ được tài Hán văn của bà.

Bà xứng danh là bậc nữ lưu văn học uyên bác ở cuối thế kỷ XVIII.

Thờ phụng


Hiện nay Công Chúa Ngọc Hân đang được thờ chính tại Đền Ghềnh (Gia Lâm, Hà Nội).

Theo tương truyền, năm 1804 mẹ hoàng hậu Ngọc Hân là Mẫu Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền đã bí mật nhờ một tướng nhà Nguyễn đưa hài cốt 3 mẹ con bà về chôn ở bãi Cây Đại trong làng Nành. Lúc ấy nhà Nguyễn đang truy lùng cực kỳ gắt gao, tìm cho ra hài cốt của 3 mẹ con hoàng hậu Ngọc Hân nên mộ bà được xây hết sức bình thường.

Tuy nhiên, 38 năm sau, đời vua Thiệu Trị, do mâu thuẫn trong làng nên có đơn tố giác ông chánh tổng Hà Dương dung túng cho làng Phù Ninh (làng Nành nơi chôn hoàng hậu Ngọc Hân) thờ nghịch tặc. Khi ấy, tổng đốc Bắc Ninh được triều đình cử đi điều tra đã phát hiện ra tại dinh Thiết Lâm, nơi an nghỉ của Mẫu Chiêu Nghi Nguyễn Thị Huyền có thờ hoàng hậu Ngọc Hân và 2 người cháu ngoại. Ngay lúc đó, triều đình lệnh cho quân lính đào mộ lên và hất hài cốt xuống sông. Tuy nhiên, một thời gian sau đó, tại khúc sông làng Ái Mộ nổi lên bãi bồi ngày một cao, người dân cho rằng đó là hài cốt của 3 mẹ con hoàng hậu Ngọc Hân nên tạo miếu thờ và thắp hương tại đây.

Tuy nhiên ít lâu sau, ngôi miếu nhỏ cũng bị lũ cuốn trôi. Mãi đến năm 1858, cụ Đặng Thị Bản, vợ cụ Định Đình Hinh cùng nhiều khách thập phương khác đã hằng tâm công đức tôn tạo lại đền ở Ái Mộ được nhân dân vô cùng quý trọng. Ngày ấy, nhà Nguyễn vẫn còn thù hằn với nhà Tây Sơn nên để bảo vệ đền, người dân nơi đây phải dùng hình thức mẫu Thoải để thờ thay vì thờ đích danh công chúa Ngọc Hân.

Đến năm 1872, Pháp đánh phá Hà Nội, đền cũng bị phá hủy hoàn toàn. Cụ Bản lại đứng lên kêu gọi quyên góp khắp nơi và xây dựng lại đền khang trang hơn trước. Trải qua bao phen binh lửa, đền Ghềnh vẫn được con cháu cụ trông nom đến ngày nay.

Tham khảo


  1. Báo Bình Định: http://www.baobinhdinh.com.vn/datnuoc-connguoi/2005/6/12297/
  2. Người kể sử: https://nguoikesu.com/nhan-vat/le-ngoc-han
  3. Zing News: https://zingnews.vn/ngoc-han-cong-chua-va-noi-oan-xuyen-the-ky-post986872.html
Hình ảnh

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hình ảnh