Yết Kiêu (1242 – 1303)

Giới thiệu


Yết Kiêu (1242-1303; chữ Hán: 歇驕) là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần, ông là gia nô và một trong 5 mãnh tướng dưới trướng Quốc công Tiết Chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Ông là người có công giúp nhà Trần chống giặc Nguyên Mông vào thế kỷ XIII với biệt tài thủy chiến.

Thân thế


Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, quê tại làng Tường, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (nay thuộc xã Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Phạm Hữu Thế, con ông Phạm Hữu Hiệu, người thôn Hạ Bì và bà Vũ Thị Duyên, người huyện Thanh Hà. Cha làm nghề chài lưới bên sông Quát, mẹ bán hàng nước ở bến đò.Cuộc sống bần hàn của một gia đình ngư dân nghèo khó và sớm mồ côi cha đã khiến Phạm Hữu Thế rất vất vả, phải chài lưới, cào hến giúp mẹ kiếm ăn ngay từ nhỏ. Cuộc sống trên sông nước đã khiến ông bơi lội rất giỏi.

Tương truyền, năm 15 tuổi, vào một buổi sáng tinh mơ, Phạm Hữu Thế ra sông gánh nước. Sương trắng mù mịt nổi khắp mặt sông, Phạm Hữu Thế thấy hai con trâu trắng húc nhau liền dùng đòn ống đánh đuổi, can ngăn. Hai con trâu biến mất, Hữu Thế thấy còn hai chiếc lông còn dính vào đòn ống, đặt xuống nước, nước rẽ ra làm đôi. Cho đây là lông trâu thần, ông liền nuốt vào bụng. Từ đấy, Phạm Hữu Thế có thân thể hùng cường, trí lực, bơi lội tài giỏi, đi trong nước như ở trên đất bằng vậy. Sự lạ lùng ấy ứng với bức hoành phi trong đền Quát “Thiên cổ dị nhân” (từ trước tới nay mới có người lạ thường như vậy). Thực ra, đây là một cách lý giải tài bơi lội của Phạm Hữu Thế để làm tăng thêm tính phi thường của viên tướng xứ Đông này, khẳng định tài bơi lội của ông như do thần linh mang lại.

Sự nghiệp


Năm 1258, nước Đại Việt bị giặc Mông Cổ phía Bắc lăm le xâm lược, nghe tiếng loa truyền tìm người ra giúp nước, Phạm Hữu Thế quyết định lên đường tòng quân. Ông được tuyển vào thủy quân của nhà Trần. Cũng trong năm ấy, triều đình mở nhiều hội thi để chọn người tài, trong đó đấu vật được xem là cuộc thi quan trọng nhất để chọn người tài theo cạnh Trần Hưng Đạo.
Tương truyền trong cuộc thi đấu vật, những ai tham gia đấu vật với Đô Châu, gia nhân đấu vật giỏi của Trần Ích Tắc đều mất mạng. Thấy thế, Yết Kiêu liền xông vào ứng đấu. Thay vì quật ngã Đô Trâu, ông nhấc bổng hắn lên, sau đó làm cho hắn ngã ngửa bụng lên trời. Sau khi thắng, Yết Kiêu tha chết cho Đô Châu. Cảm phục tấm lòng của Yết Kiêu, Đô Châu quỳ lạy người trẻ tài cao. Thế nên, trong đền Quát hiện nay có linh vật ông Phỗng Đá đang quỳ lạy. Sau cuộc vật, Yết Kiêu được Trần Hưng Đạo mời làm gia nô và dần trở thành danh tướng thủy quân tài giỏi.
Năm 1285, giặc Mông Cổ chính thức đổ bộ sang xâm lược nước ta. Nhà Trần dùng kế sách sơ tán bỏ nhà không để đánh lừa giặc. Trong kế hoạch đó, Yết Kiêu được Trần Hưng Đạo cử đi bảo vệ hai vua Trần cùng đoàn thuyền rồng hoàng tộc, sơ tán về Nam Định bằng đường sông. Trên đường đi gặp gió to, sóng lớn nước sông chảy xiết làm đoàn thuyền rồng bị chao đảo như muốn chìm xuống lòng sông. Để tìm hiểu nguyên nhân, Yết Kiêu liền lặn xuống đáy sông. Sau khi biết do con Giảo Long quậy phá, ông liền tâu vua xin được giết Giảo Long trừ hại cho dân. Giết xong Giảo Long, ông xách đầu nó lên tâu vua, từ đó ông giữ làm trọng thần trong triều.
Đến tháng 12/1285, quân Nguyên lại tiến đánh Đại Việt lần thứ 2. Yết Kiêu được giao nhiệm vụ cản thuyền giặc để bảo toàn cho vua rút quân. Trong lúc nguy khốn quân giặc đông gấp bội, tự nhiên có một con cá rất lớn lao tới. Yết Kiêu đã nhảy lên lưng cá và biến mất vào lòng sông sâu. Một lần khác, để cản đường giặc giúp Trần Hưng Đạo chạy đi, một mình ông ở lại ngăn cản. Trong lần này, ông bị giặc bắt, trói trên thuyền. Bắt được ông, tướng giặc tra hỏi: “Nước Nam có bao nhiêu người tài như ngươi”. Ông liền trả lời là rất nhiều, ông chỉ là người kém nhất nên mới sa vào tay chúng. Tiếp đó, chúng hỏi ông làm cách gì để mời họ đến, vừa hay ông thấy trên trời có đàn hạc đang bay lượn liền nói: “Các anh ta không thấy ta về nên đến tìm kìa”. Nghĩ có thể bắt được nhiều người nữa, tướng giặc liền cởi trói cho Yết Kiêu để ông mời họ xuống. Vừa cởi được trói, ông liền ôm tướng giặc nhảy xuống sông. Nhờ biệt tài đi dưới nước như đi trên cạn, Yết Kiêu được triều đình nhà Trần trọng dụng.

Thờ phụng


Yết Kiêu mất ngày 28 tháng chạp năm Ất Sửu (1303), hưởng thọ 61 tuổi. Khi ông mất, vua Trần cho lập đền thờ ở bờ sông Hạ Bì  quê ông là đền Quát. Khu đền đã trải qua hơn 700 năm, đến thế kỷ XVII- XVIII  được tôn tạo khang trang và tu sửa nhiều lần vào triều Nguyễn. Khu di tích đền Quát được xếp hạng quốc gia (28-1-1989). Lễ hội đền Quát thường diễn ra vào rằm tháng giêng và rằm tháng tám. Vào dịp này, nhân dân địa phương và khách thập phương lại trở về vùng sông nước Hạ Bì, trước là lễ tạ thành hoàng Yết Kiêu, sau là dự hội  làm bánh, hội đua thuyền … Tại lễ hội có lễ tế công chúa Nguyên triều, và phải là những cô gái chưa chồng mới được tham gia lễ rước.
Yết Kiêu được lập đền thờ ở: xã Yết Kiêu, Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và đền Phủ Võng bên sông Vân ở thành phố Ninh Bình. Tại quê mẹ của ông, làng Lôi Động, xã Tân An, huyện Thanh Hà cũng có thờ ông – Thành hoàng của làng.
Ở Ninh Bình, Yết Kiêu được thờ cùng Trần Hưng Đạo và các vua nhà Trần trong khu di tích hành cung Vũ Lâm. Ông cũng được thờ tại di tích phủ Võng bên sông Vân.

Tham khảo


  • https://vi.wikipedia.org
  • https://nld.com.vn/dia-phuong/danh-tuong-yet-kieu-va-nhung-dieu-it-nguoi-biet-20120626032824952.htm
  • https://thuvienlichsu.com/nhan-vat/danh-tuong-yet-kieu-316
Chấm điểm
Chia sẻ
Yết Kiêu

Nguồn gốc

  • Là anh hùng chống giặc ngoại xâm vào đời nhà Trần
  • Là gia nô và một trong 5 mãnh tướng dưới trướng Quốc công Tiết Chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn

Phủ / Nơi cai quản

  • Hội đồng Trần Triều

Danh hiệu

  • Danh tướng Yết Kiêu

Nội dung chính

Hình ảnh
Nơi thờ tự
Lễ hội

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

pexels4035926