Chùa Dục Tú (Chùa Tiên Cảnh) – Đông Anh – Hà Nội

Chùa Dục Tú (Chùa Tiên Cảnh) – Đông Anh – Hà Nội
Chùa Dục Tú (Chùa Tiên Cảnh) – Đông Anh – Hà Nội
Thông tin
Địa chỉ: Thôn Dục Tú 3, xã Dục Tú
Đông Anh
Hà Nội
Giới thiệu

Tên gọi


Chùa thôn Dục Tú, có tên chữ là “Tiên Cảnh Tự”, ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác sau mỗi lần di chuyển như “Chùa Đào”, “Chùa Thức”, “Chùa Bà Tông”, “Chùa Dục Tú”.

Lược sử


Làng Dục Tú từ xa xưa đã có ngôi đền thờ Sĩ Nhiếp là tiền thân của ngôi đình Dục Tú hiện nay. Theo thần tích của làng cũng như sách “Việt điện u linh”, Sĩ Nhiếp quê ở huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô (Trung Quốc), là người có đạo đức, hiếu hạnh, liêm chính. Vào thời vua Hán Hiến Đế đã làm Thái thú đất Giao Châu.

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã ghi lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư: “Sĩ Vương ở ngôi 40 năm, thọ 90 tuổi. Vương là người khoan hậu, khiêm tốn, lòng người yêu quý, giữ cả đất Việt, chống với thế mạnh Tam Quốc, đã sáng suốt lại mưu trí, có thể gọi là bậc vua hiền. Lúc ít tuổi sang du học tại Kinh đô nhà Hán, theo học Lưu Tủ Ký ở Đình Xuyên, chuyên trị sách “Tả thị Xuân Thu” có làm lời chú giải – được cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thi lang, bổ nhiệm làm lênh huyện Vu Dương, đổi là Thái thú Giao Châu (sửa làm Giao Chỉ), phong là Long bộ đình hầu, đóng đô ở Liêm Lâu (tức Long Biên). Sau nhà Trần truy phong làm “Thiên cảm gia ứng linh vũ đại vương”.

Nằm trong Kinh Bắc với trung tâm phật giáo Luy Lâu, chùa Dục Tú ra đời từ rất sớm, có thể là từ thế kỷ VIII – XI. Ngôi chùa đầu tiên theo lời kể của các bậc cao niên trong làng là chùa Thức, được dựng trên bãi đất cao bên sông Cổ Giang, sau có thể mang tên chùa Hội, chùa Bà Tông … cho đến khi chùa mang tên chợ Vòng thì bị phá, dân làng chuyển chùa về nhà Thọ Lão ở đình làng như hiện nay. Chùa Dục Tú đã qua nhiều đời trùng tu, sửa chữa, năm Quý Dậu đời Gia Long (năm 1813), năm Ất Mùi đời Minh Mệnh (năm 1835) và năm Tân Hợi đời Tự Đức (năm 1851).

Chùa do nhiều lần chuyển dời, qua nhiều biến cố lịch sử và một phần do tiêu thổ kháng chiến nên hiện nay quy mô kiến trúc của chùa còn nhỏ. Chùa hiện tại là phần kiến trúc nhà Thọ Tứ của đình làn được dựng vào năm 1887. Chùa quay hướng Nam nhà dạng chữ Nhị với 2 nếp 3 gian 2 dĩ.

Kiến trúc


Chùa có quy mô kiến trúc rộng lớn với tổng thể kiến trúc gồm giếng đình, sân, tiền tế, đại đình, hậu cung và đền liền sát. Sân rộng lát gạch bát tràng cổ, tiền tế là một tòa nhà 5 gian 4 mái với kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường con nhị.

Sân đình rộng lát gạch bát tràng cổ, tiền tế là một tòa nhà 5 gian 4 mái với kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường con nhị. Đại đình không xây kín, 2 gian bên ở phía trước đại đình được xây bịt ở phía dưới, trên là chấn song con tiện. Đại đình cũng có 4 mái với 4 góc đao cong hòa nhập vào kiến trúc tổng thể.

Tòa hậu cung là 3 gian xây theo kiểu đầu hồi bít đốc với 4 hàng chân. Nhìn chung kiến trúc chùa Dục Tú đẹp, thanh thoát và vẫn còn mang dấu vết của một ngôi chùa truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Chùa Dục Tú là di tích có niên đại ra đời vào loại sớm ở nước ta. Đến với nghệ thuật ở di tích không chỉ dừng lại ở một chi tiết mà phải đặt nó trong tổng thể. Dấu vết vật chất của các thời kỳ lịch sử còn in đậm trên kiến trúc và các di vật của lịch sử.

Từ quy mô bề thế đến các kết cấu, các mạng chạm khắc đẹp, sinh động, các mái cong hài hòa uyển chuyển. Tất cả là nhờ bàn tay đầy tính nghệ thuật của người nghệ nhân cổ, mang hết tinh hoa văn hóa dân tộc đặt vào trong đó.

Cùng với đình, cụm di tích có cảnh quan đẹp, thoáng, rộng, có hồ lớn và nhiều cây cổ thụ.

Dấu vết của các thời kỳ lịch sử còn in đậm trên kiến trúc của chùa. Từ bàn tay của những người nghệ nhân đã khéo léo khắc họa một thời kỳ lịch sử của dân tộc. Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1995.

Di vật


Chùa Dục Tú hiện vẫn còn lưu giữ được nhiều di vật quý, như cuốn Thần phả ghi sự tích của Sĩ Nhiếp cùng 18 đạo sắc phong thần, trong đó có 7 sắc phong thời Lê, 2 sắc phong thời Quang Trung và 9 sắc phong thời Nguyễn; đôi vẹt thờ có nghệ thuật tạo tác thế kỷ XVII cùng các đồ thờ có giá trị nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX.

Đặc biệt là hệ thống tượng tròn, mang những đặc trưng nghệ thuật của từng thời kỳ. Mỗi pho tượng được tạo tác là sự khắc họa tính cách của từng nhân vật trong truyền tích lịch sử. Trong toàn bộ hệ thống tượng, đáng chú ý là bộ tượng Tam thế, tượng Thập diện và tượng Phật Di Lặc. Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ được một số di vật cổ như: bia đá, chuông đồng được đúc năm Minh Mạng 16 (năm 1835).

Do sự di chuyển nhiều nên hiện nay chùa còn 32 pho tượng Phật và tượng Hậu. Trong số các tượng có tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng đồng. Trong chùa không có tượng Mẫu vì tượng Mẫu được thờ riêng bên trái của đình, đồng thời đó cũng là nơi tưởng niệm Trần Hưng Đạo. 

Ngoài một số tượng tròn, chùa còn có ba bia đá mang niên đại khá sớm là 1622, 1873, 1851 ghi rõ năm tháng và công đức của những người góp công tu bổ chùa, một quả chuông đồng được đúc năm 1835 mang tên Tiên Cảnh tự chung, một bát hương đồng.

Đặc trưng


Với bề dày lịch sử trên 300 năm, đình Dục Tú và chùa Tiên Cảnh đã tạo thành cụm di tích, vượt qua không gian hẹp của làng xã để trở thành một trong những điểm di tích thu hút nhiều khách đến tham, thưởng ngoạn.

Đình Dục Tú mang trong mình giá trị nhiều mặt, trước tiên ở góc độ lịch sử. Đây là ngôi đình thờ Sĩ Nhiếp – người đã có vai trò thúc đẩy một bước mạnh mẽ phát triển nho học ở Giao Châu. Trong quá trình làm Thái thú, ông đã chăm lo, tạo dựng cuộc sống cho người dân nơi dây và được các sử gia đương  thời của nước Việt đánh giá là một nhân vật tích cực.

Về góc độ kiến trúc nghệ thuật, đình Dục Tú là di tích có niên đại ra đời vào loại sớm ở nước ta. Đến với nghệ thuật ở di tích không chỉ dừng lại ở một chi tiết mà phải đặt nó trong tổng thể. Dấu vết vật chất của các thời kỳ lịch sử còn in đậm trên kiến trúc và các di vật của lịch sử. Từ quy mô bề thế đến các kết cấu, các mạng chạm khắc đẹp, sinh động, các mái cong hài hòa uyển chuyển… trong di tích giúp chúng ta hiểu thêm về di tích này. Khối lượng di vật lớn, phong phú và đa dạng về loại hình, nhiều về số lượng được ra đời trong các giai đoạn lịch sử khác nhau nên tự mỗi di vật đều có vẻ đẹp riêng. Tất cả là sự gửi gắm tâm linh với bàn tay đầy tài hoa của người nghệ nhân cổ.

Đặc biệt, hệ thống sắc phong, văn bia của hai thời Lê Nguyễn, ngoài giá trị nghệ thuật còn là nguồn sử liệu quý trong việc tìm hiểu đời sống xã hội của một ngôi làng cổ ngoại thành.  Dưới đây là bài minh trên tấm bia niên hiệu Vĩnh Tộ 4 (1622) đã ghi rõ công đức của bà Đào Thị Sa, Vương phi cung tần người làng Dục Tú đã góp công tu sửa chùa:

“Cúng ruộng vào bia

Bản xã danh thôn

Cổ tích lưu truyền

Đông Ngàn đất đẹp

Nay thời thịnh trị

Chùa nơi Dục Tú

Trước xây sau sửa

Chính bà họ Đào

Nối dõi trời Nam”.

Hoạt động – Sự kiện


Chùa cùng với đình đã được Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa năm 1995.

Tham khảo


  • Chùa Dục Tú – Khắc họa một thời kỳ lịch sử của dân tộc, https://laodongthudo.vn/chua-duc-tu-khac-hoa-mot-thoi-ky-lich-su-cua-dan-toc-101148.html
  • Đình Dục Tú, https://www.hoangthanhthanglong.vn/blog/dinh-duc-tu/3108
  • Cụm di tích (Đình – chùa) Dục Tú, http://mobile.coviet.vn/detail.aspx?pid=N0JDQTBBMDkwNA&key=D%E1%BB%A5c+T%C3%BA&type=A0
0/5 (0 Reviews)
Hình ảnh
Video
Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội & Sự kiện
Nội dung đang được cập nhật.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *