Chùa Nành (Gia Lâm, Hà Nội)

Chùa Nành (Gia Lâm, Hà Nội)
Chùa Nành (Gia Lâm, Hà Nội)
Thông tin
Địa chỉ: Làng Nành, xã Ninh Hiệp
Gia Lâm
Hà Nội
Giới thiệu

Tên gọi

Chùa Nành có tên chữ là Pháp Vân Tự (法雲寺). Còn có tên khác là chùa Pháp Vân hay tên người dân thường gọi là chùa Cả.

Các vị trụ trì

  •  Thánh tổ Thiền Sư Khâu Đà La, thế kỷ thứ 3 sau CN, một trong những vị đầu tiên mang đạo Phật truyền vào Việt Nam, người sơ khởi dựng chùa Nành.
  •  Sư Cụ Nguyễn Huệ Chung, thời Đinh tiền Lê, Lý, người đã cho vua Lý Thái tổ về đây cư ngụ.
  •  Sư Cụ Phạm Thông Hòa, khoảng năm 1923
  •  Hòa Thượng Thích Mật Trọng (1924 – 2009) trụ trì giai đoạn 1958 – 2009
  •  Thượng tọa Thích Hạnh Tùy (hiện nay)

Lược sử

Chùa Nành xưa kia thuộc tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; rất gần các địa danh nổi tiếng của Bắc Ninh như đền Gióng, chùa Dâu, chùa Phật Tích, Luy Lâu. Dân còn gọi là chùa Cả vì còn có 2 chùa khác của làng Ninh Hiệp vừa sinh sau vừa nhỏ hơn gồm chùa Khánh Ninh xây năm 1664 và chùa Đại Bi dựng năm 1673.

Khi Phật giáo mới du nhập vào Việt Nam, sư Khâu Đà La đi qua đất làng Nành và cư ngụ lại một thời gian. Ban ngày Ngài đi hóa đạo, cầm cây cờ thắng phan, ban đêm về ngủ ở tảng đá ở cây đa đầu làng, ở gò đất trong làng Ngài dựng một thảo am để thờ Phật, đây chính là tiền thân của ngôi chùa.

Kiến trúc

Vào đầu thời Thiệu Trị, khi làng Nành bị tố giác có mộ mẹ con Hoàng hậu Lê Ngọc Hân và bàn thờ họ trong dinh Thiết Lâm của bà Chiêu Nghi, triều đình Huế đã sai quật mồ và triệt phá dinh. Có thể lúc này chùa Nành bị vạ lây nên không còn dấu tích gì về kiến trúc cũ.

Chùa Nành được xây lại hoàn toàn vào cuối thế kỷ XIX. Nằm trên thế đất “Rồng cuốn hổ chầu”, tổng thể kiến trúc chùa được trải dài với toà tiền đường 7 gian 2 dĩ, thiêu hương 6 gian và 3 gian thượng điện. Nhà giải vũ hai bên nối liền từ tiền đường xuống Điện mẫu. Nổi bật nhất trong tổng thể kiến trúc là toà thuỷ đình (cũng gọi là phương đình) được đặt trên hồ nước. Toà thủy đình với 2 tầng 8 mái. Tương truyền, nhà thuỷ đình do bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền, vợ vua Lê Cảnh Hưng xây dựng vào thế kỷ 18 làm nơi múa rối nước trong những ngày hội làng.

Tiếp đó là cổng ngũ môn xây 2 tầng kiểu vòm cuốn bằng chất liệu đá xanh. Toà tiền đường được xây theo kiểu độc đáo, hiếm thấy ở các ngôi chùa thuộc vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sát hai bên hồi người ta đã xây nổi lên 2 góc mái nhỏ, mỗi góc 4 mái, có 4 đao con cong vút toả ra 4 phía: đó là gác chuông và gác khánh. Nằm giữa 2 góc là đôi rồng chầu mặt nguyệt lớn, tạo cho tổng thể kiến trúc uy nghi, đường bệ mà vẫn gần gũi với đời thường. Bộ vì làm theo 1 kiểu: “thượng cốn, hạ kẻ”. Đây là một nét đặc trưng riêng của kiến trúc chùa Nành. Toà thượng điện có nền cao hơn (90 cm – 1 m) so với các kiến trúc xung quanh.

Di vật

Chùa Nành có 116 pho tượng, gồm tượng Phật, tượng Thập điện Diêm vương, tượng Tứ trấn, tượng Hộ pháp, tượng Bát bộ Kim cương, tượng Mẫu, tượng Hậu… Nhiều tượng mang niên đại cuối thế kỷ XVII, tiếp đến là những tượng của thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX. Ở hành lang của chùa còn có 18 vị Tổ truyền đăng mà người Việt thường gọi là Thập Bát La Hán. Đáng lưu ý là hình tượng một vị Tổ được tạc trên hòn đá tự nhiên.

Đây là một hiện tượng rất riêng biệt ở chùa Nành mang đầy chất nghệ thuật truyền thống của người Việt. Hệ thống di vật trong chùa cũng vô cùng phong phú về thể loại và chất liệu như bia đá, chuông đồng, khánh đồng, thần phả, sắc phong cổ và quý qua các triều đại Mạc – Lê – Tây Sơn – Nguyễn. Đáng lưu ý là quả chuông “Pháp Vân tự hồng chung” niên hiệu Thịnh Đức 1 (1653). Chuông mang phong cách thời Mạc ở thế kỷ 17 với nghệ thuật điêu khắc đặc biệt: quai chuông đúc hình lưỡng long chạy ra đuôi rồng chầu vào nhau, đầu rồng bò xuống thân chuông. Chuông đúc núm, mỗi núm trang trí các hình hoa cúc, viền chuông trang trí cánh sen cách điệu, vai chuông thon, đáy nở. Cùng với niên đại và phong cách nghệ thuật trang trí trên thân chuông, có thể xếp đây là một trong không nhiều quả chuông cổ và quý còn lại trong các ngôi chùa ở nước ta.

Ngôi chùa hiện nay còn lưu giữ 3 tấm bia đá cùng nhiều pho tượng gỗ phủ sơn rất quý như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng cao 0,80 m, tòa sen và đế cao 0,70 m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,73 m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao 1,56 m), tượng Thập Điện Minh Vương (cao 1,35 m), tượng Thập bát La-hán (cao 1,08 m),… Bên cạnh hệ thống tượng Phật, chùa Nành còn có tượng bà Nành – đây là dấu tích của sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam.

Đặc trưng

Đến chùa Nành vào những ngày thường trong năm, du khách phải qua cổng phụ, cổng chính chỉ mở vào ngày lễ hội. Bước qua cánh cổng ấy, du khách thực sự phải giật mình trước vẻ thanh tịnh, cổ kính hiếm thấy ở đây. Tuy cũng đã qua nhiều lần trùng tu nhưng hiếm có di tích nào lại giữ được vẻ cổ kính trầm mặc như nơi đây. Phía trước thượng điện, chạy dài hai bên là những gian nhà bia – ngói đã lên rêu ngả màu. Những cột gỗ không được sơn bóng loáng mà thấm đẫm màu sắc bàng bạc của thời gian.

Câu chuyện bạn chưa biết

Tương truyền, chỗ thảo am là đầu chim Phượng Hoàng còn tảng đá sư ngủ là lưng của con chim. Sau này, ông Tu Định cư sĩ (cha của Man nương) đã đến đó Khâu Đà la về Luy Lâu ở kẻ Dâu.

Nhiều làng cổ ở mạn phía bắc sông Đuống vốn được lập trên những quả gò nổi lên giữa vùng đồng đất phẳng. Gò nổi có âm Hán–Việt là Phù. Tên Nôm của mỗi làng bị Hán hoá đồng thời với Phù, mặt khác cũng biến đổi theo ngôn ngữ dân gian nên cả hai cùng song song tồn tại đến ngày nay như những địa danh kép: Phù Ninh/Nành, Phù Lưu/Giầu, Phù Chẩn/Cháy, Phù Đổng/Gióng, Phù Cầm/Gầm v.v..

Theo bản Phả Ký ở chùa Đại Thiền (tức chùa Nành), nhân dân thời Tiền Lê đã rước tượng Pháp Vân từ chùa Dâu về thành Đại La để làm lễ cầu đảo. Sau khi trời cho mưa thuận gió hoà, dân rước trả lại chùa Dâu, nhưng đến đó thì không thấy tượng đá đâu nữa. Bỗng trong chùa làng Nành có ánh sáng lạ, thì ra pho tượng đá tỏa sáng từ trên chạc cây mận lớn ở khu vườn chùa. Dân làng bèn dựng ngôi đền và rước tượng vào thờ, còn cây mận ở vườn chùa được hạ xuống lấy gỗ tạc thành tượng Pháp Vân, từ đó những cuộc cầu đảo ở chùa này rất linh ứng.

Huyền thoại trên cho thấy bà Nành được đồng hoá với bà Dâu để trở thành nữ thần Pháp Vân. Như vậy chùa Nành có nguồn gốc từ rất lâu đời và có thể là một trong những trung tâm của Phật giáo Cổ Pháp. Tuy nhiên, chùa Nành chỉ để lại nhiều dấu tích từ thời nhà Mạc. Vào thời đó chùa được trùng tu lớn, tấm bia “Pháp Vân tự bi” niên hiệu Diên Thành thứ 6 (1583) cho biết: chùa được các hoàng thân nhà Mạc cùng nhân dân Phù Ninh hưng công xây dựng lại với quy mô lớn hơn gồm 3 gian thượng điện và 1 nhà thiêu hương.

Đến thời Lê, Trịnh, ngôi chùa lại được mở mang thêm. Năm 1675, Phú Quận công họ Trạch, người Phù Ninh, đã bỏ tiền xây thêm nhà bái đường và giải vũ hai bên, tạo thành quần thể khép kín theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Tương truyền, nhà thuỷ đình do bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền (vợ vua Lê Cảnh Hưng, mẹ Lê Ngọc Hân) công đức xây dựng vào thế kỷ XVIII.

Hiện làng Nành vẫn bảo lưu được nhiều nghi thức của lễ hội dân gian truyền thống gắn với tục thờ Pháp Vân. Đó là Hội Đại hay còn gọi là hội nâng phan (mồng 4, 5, 6 tháng 2 âm lịch). Tục nâng phan là một nghi lễ chỉ có ở làng Nành. Cây phan tượng trưng cho bó lúa được nâng lên khỏi miệng hố, thể hiện ước vọng của nhà nông cầu mong sự phồn thực, no đủ,…

Năm 1907, một chi hội của Đông kinh nghĩa thục do cụ Cử Huyên đứng đầu được thành lập tại xã Ninh Hiệp, trở thành trung tâm truyền bá tư tưởng yêu nước và canh tân của vùng Bắc Ninh. Từ năm 1942 đến 1945, chùa Nành là cơ sở của các nhà cách mạng Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng,… Ngày 21-01-1989 chùa được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá quốc gia.

Sự kiện – Thành tựu

Chùa Nành có quy mô bậc nhất ở miền Bắc Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1989.

Hội chùa Nành cũng là một trong những lễ hội đặc sắc ở Hà Nội hiện nay. Hội được tổ chức từ mồng 4 đến mồng 6 tháng 2 (âm lịch) hằng năm. Tại hội chùa, các trò chơi dân gian được tổ chức sôi nổi như: bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan và các nghi lễ như cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực của cư dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Hồng.

Tham khảo

  1. Chùa Nành – Ngôi Cổ Tự nổi tiếng đất Gia Lâm Hà Nội: https://kenhphatphap.com/chua-nanh-ngoi-co-tu-noi-tieng-dat-gia-lam-ha-noi-89eLJkEaYQ.html
  2. Tìm hiểu sinh hoạt tín ngưỡng của lễ hội chùa Nành – Gia Lâm – Hà Nội: https://repository.vnu.edu.vn/handle/VNU_123/35836
  3. Chùa Nành – Di sản quý của thủ đổ ngàn năm văn hiến: https://vtv.vn/du-lich/chua-nanh-di-san-quy-cua-thu-do-ngan-nam-van-hien-83175.htm

 

0/5 (0 Reviews)
Hình ảnh
Video
Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội & Sự kiện
Nội dung đang được cập nhật.

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *