Giới thiệu một tấm Bia trong cụm kiến trúc đình chùa Đại Dương Sùng Phúc (Chùa Sủi) xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Giới thiệu một tấm Bia trong cụm kiến trúc đình chùa Đại Dương Sùng Phúc (Chùa Sủi) xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

Thông tin cơ bản

Bài viết gồm ba cương chính, trong ấy chia làm sáu mục nhỏ. Trọng tâm của việc giới thiệu là chế bản chữ Hán, phiên âm, dịch chú văn bia, cũng thông qua đó bài viết phân tích sơ lược về nội dung của bia trong mối tương quan với lịch sử danh tăng, lịch sử khu di tích. Cuối cùng, trên cơ sơ phân tích, tham khảo tài liệu bài viết đưa ra một số nhận định và những gợi mở còn nghi hoặc cần được triển khai trong các bài viết tiếp theo.

Từ khóa: Đình chùa Sủi/ Đại Dương Sùng  Phúc tự/ Bia chùa Sủi/ chùa Sủi.

Phú Thị đại Dương Tự Bi

Phú Thị Đại Dương tự bi

Bia Và Đình- Chùa Đại Dương Sùng Phúc (Chùa Sủi)

Lý do chọn giới thiệu tấm bia

Có ba lý do chính

Thứ nhất: Những bia của Chùa – Đình hiện tồn, tuy đã được nhiều nhà nghiên cứu dịch chú, khai thác thông tin, nhưng những nghiên cứu ấy có lẽ xuất phát từ các góc nhìn khác nhau, phạm vi nhiên cứu khác nhau, hướng đến các kết quả nghiên cứu khác nhau và đã có những thành tựu to lớn nhất định. Đơn cử một thành quả đó là cuốn sách “Ban quản lý di tích Phú Thị Gia Lâm – Hà Nội (2004) Tư liệu lịch sử quê hương Sủi”. Trong đó có tuyển chọn, dịch chú một số bia trong khu di tích làm cơ sở cho nghiên cứu lịch sử di tích. Trong tài liệu này không thấy phiên dịch tấm bia có tên Nam Mô A Di Đà Phật mà trong bài viết này của chúng tôi sẽ giới thiệu. Bằng những thông tin mềm, chúng tôi được biết tấm bia này đã được dịch không dưới một lần, nhưng bản dịch và công bố kết quả thì hiện tại chúng tôi chưa tiếp cận được một bản dịch cũng như công bố nghiên cứu nào.

Thứ hai: Trong Nội dung ghi trong bia chuyển tải nhiều thông tin có giá trị liên quan đến lịch sử của chùa, một số danh tăng để lại dấu ấn với chùa.v.v.

Thứ ba: Vì trụ sở văn phòng Bảo tồn di sản Phật giáo, cơ quan chủ bút viết Nội san đặt tại đây. Cho nên việc tìm hiểu về lịch sử Đình – Chùa, cũng như những danh tăng, thiền phái, hay nhưng thông tin liên quan.v.v. về nơi đây là điều cần được ưu tiên.

Đấy là ba lý do chính để chúng tôi viết bài “Giới Thiệu Một Tấm Bia Trong Cụm Kiến Trúc Đình Chùa Đại Dương Sùng Phúc (Chùa Sủi) Xã Phú Thị Huyện Gia Lâm Thành Phố Hà Nội” này.

Hiện trạng bia

Vị trí:

Cụm kết cấu kiến trúc Đình – Chùa hiện tồn 19 bia. Trong số ấy 16 bia hiện được kết tập, bảo tồn từ các vị trí khác nhau vào chung một nhà bia cạnh Đình, 2 tấm bia được dựng tại hai bên đường vào cổng Đình, và 1 bia dựng trong sân chùa.

Tấm bia được giới thiệu trong bài viết là tấm bia dựng trong sân chùa. Đây là tấm bia duy nhất trong tổng số 19 bia trên được bố trí thiết kế nằm trong không gian kiến trúc của chùa, cụ thể hơn là tại sân chùa. Bia đá bốn mặt, dựng chính giữa phía trước tòa Tam bảo, đối xứng hai bên có lầu chuông và lầu khánh, tạo thành bố cục bộ ba gồm bia- chuông- khánh. Bia làm bằng chất liệu đá cứng, dựng trong nhà bia xây bê tông kiên cố.

Tác giả soạn văn bia, khắc bia, niên đại: Người soạn văn bia: Cử nhân Hoàng Thúc Hội, hiệu Cúc Hương, xã An Quyết huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội. Niên đại ghi trên văn bia năm Quý Dậu niên hiệu Bảo Đại (1933). Khắc bia bởi tăng trụ trì bản tự Nguyễn Duy Tiến.

Kích thước: Mặt trước = Mặt sau = 120 x 227 (cm). Hai mặt bên…Kích thước lòng bia mặt trước/ sau…

Kiểu chữ: Chữ Khải, khắc chìm. Chữ còn đầy đủ rõ nét, không bị mờ mòn hay mất chữ nào.

Số dòng: Mặt trước = Mặt sau = 36 (dòng). Mặt bên…

Số chữ trên một dòng: …

Chữ húy: Văn tự khắc chữ kiêng một trường hợp, húy chữ Thời, trong văn bia viết là Thìn. (chữ kiêng húy vua Tự Đức. Nhà vua tên Nguyễn Phúc Thì/ Thì, chữ Thì viết đổi thành Thìn, nhưng phải hiểu là chữ Thời).

Chữ dị tự, tục tự: Trong văn bia không có trường hợp dùng chữ dị tự hay tục tự.

Viết đài: Hai trường hợp: chữ Lý (triều nhà Lý), chữ Nguyễn (tôn đài tên triều nhà Nguyễn).

Một số chi tiết khác: Trên bi ngạch, cả hai mặt trước và sau đều đề chữ to Nam Mô A Di Đà Phật. Hai bên diềm bia (chỉ có ở mặt trước

Giới thiệu khái lược về cụm kiến trúc Đình – Chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi)

Tên gọi “Cụm di tích Đình – Chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi)”.

Đình: Chúng tôi không thấy có văn tự ghi tên đình là gì.

Chùa Đại Dương Sùng Phúc: Đây là tên chữ đầy đủ hiện nay của chùa (chữ Hán ghi trên biển ngạch cũng như văn bản hành chính của chùa).

Chùa Sủi: Đây là cách gọi trong dân gian hiện nay về chùa. Chữ Sủi là cách đọc Nôm chữ磊Lỗi. Tên trang vào thời Lý. Căn cứu tài liệu hiện có thì vùng đất xã Phú Thị hiện nay vào thời Lý là trang Thổ Lỗi (đây là một cách hiểu giải thích về tên Sủi đang có hiện nay. Cũng còn có cách giải thích khác theo hướng âm vận, trong bài viết này không đặt trọng tâm vào giải thích tên gọi nên chỉ đưa ra một cách giải thích như trên).

Cụm di tích Đình – Chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi). Đây là danh từ khái niệm chúng tôi tự đặt ra để giới hạn phạm vi bài viết, cũng đồng thời dùng để thao tác riêng trong bài viết này.

Đất Sủi xưa kia là trang Thổ Lỗi, nơi đặt quân doanh của Tây vị đại vương tướng quân Đào Liên Hoa dẹp loạn 12 xứ quân giúp vua Đinh lên nghiệp đế vương. Sau khi ngài mất, nơi đây thờ ngài làm Thành Hoàng. “Cung đài long phụng tự, tương truyền Thổ Lỗi cựu quân đinh”.

Tên Sủi là tên ban đầu ở đất này, đến năm 1068 vua Lý Thánh Tông đổi thành hương Siêu Loại. Tên xã Phú Thị được ghi trong bia Đại Dương tự bi ký, năm Dương Hòa thứ 2 (1636) và đến năm 1746 được vua ban cho tên gọi Trung Nghĩa1

Phú Thị thuộc đất Gia Lâm, xưa kia thuộc Tượng quân, huyện Long Biên. Thời Lý thuộc phủ Thiên Đức, thời Trần thuộc lộ Bắc Giang.2 Thời Tây Sơn thuộc tổng Kim Sơn, huyện Thuận An, trấn Kinh Bắc.3 Thời Nguyễn thuộc tỉnh Bắc Ninh. Mãi đến năm 1961, Gia Lâm mới trở thành ngoại thành của thủ đô Hà Nội.

Chùa Sủi là tên nôm mà mọi người đặt cho chùa Đại Dương Sùng Phúc, bởi chùa xây trên đất làng Sủi. Sau khi dựng lại và hoàn thiện vào năm 1115, không tìm được ghi chép nào về hiện trạng khi đó của chùa, phải mãi đến những năm cuối của thế kỷ XVI mới có thông tin được khắc trên bia.

Trong bia “Cúng Phật sản bi” có khắc: “Chùa Đại Dương Sùng Phúc: Phía trước có đường muôn dặm qua lại trải dài về phía Nam. Phía sau có muôn nhà, các thôn trấn, ở phía Bắc. Phía bên trái lớp lớp trầu hướng về. Chùa thực là thắng cảnh đệ nhất ở Việt Nam vậy”4

Chế Bản Chữ Hán, Phiên Âm, Dịch Nghĩa, Phân Tích Nội Dung Bia

Chế bản chữ Hán

 富市-大揚寺碑

梵宇日開光照大千世界;

碑文紀念靈傳有億春秋。

紅河之北數里間,富市大揚寺古矣。僧進公余所與遊也。僧近來書寫檢閱日不暇給,大有功於禪典。客冬詣余辭曰:『自歲庚午本邑請僧卓錫本寺』凡所應辦以次第舉請碑之,非敢自敘也。傳諸後以資考擷耳』,敦余臨寺,欲使身親見之也。

予發焉環境以觀寺,內有節義碑,前有祠祀陽神,左有祠寺陰神,均由僧主祀,廻廊連亘門腋相通一莊嚴梵宇也。碑與記幸猶有存者。按之,寺李朝第三帝皇太后倚蘭夫人所創也。

節義則本邑人,黎景興進士阮公德寧,督高平,土酋梵順公力戰死之,眷及屬凡二十八人皆徇節祀于寺。
陽神陶將軍,丁功臣也,平使軍立國統,為一辰冠。

左陰神祠即倚蘭夫人也。夫人之潛德懿行,贖貧嫁鰥。當時頌曰:『觀音』,女使祥之矣。正氣雄風,閫範母儀千載大韻,事畢于斯寺而得之。若寺之所以寺者,禪宗也。陳朝有人焉,童有善念,傾筩放蜞佛性也,長而受持守界行,明禪指,四十年說法,七十所定禪,東山和尚其人也。禎祥繼燈深得東山之衣鉢。金字一題,九重感悟,賜號曰『正信禪師』。迨夫本邑阮公諱文桂者以儒門家訓為釋教宗傳修寺,置田大有功於禪宇,蒙封進功郎,普濟禪師。彼列位尊者禪苑有光矣。

今進公住持于斯,有以繼其芳風偉跡否乎?曰未有知。仍以現象觀若所為,亦足以彰其美,于時厥後,余其表而出之。或語余曰:佛說與儒教異,且時代文明,神佛荒誕,儒中人何亟亟焉為緇流咡嚅,淪於禪乎?

應之曰:淪於禪所以補於儒也。我國爾來儒學不講,勢則然耳。歐海風潮,澎湃于東洋,物質科學,雖云上進,而新舊之交,人心風俗殆,不可問矣。佛教其救時之急務歟!

彼夫斷六根,靜六塵,戒貪嗔癡,絕淫殺盜,茹草喫素其有肆口腹以殄天物者乎?

隨緣喜捨其有沒廉恥以趨名利者乎?

披緇掛納,遠聲絕色,其有錦羅奢侈,甚於天災蘭麝熏爍瀆於人道者乎?且也,輪迴禍福,地獄果報,其說尤足以動人而警俗,極至於自由博愛,憐憫四生昆虫草木不敢毀傷。視夫弱肉強食,碑雨煙風,伏尸百萬流血千里者。又何如昔晉杜預鑄鐘,唐裴度造寺,與我國玄光狀元之投佛,隊 山探花之出家,儒而禪者難以校舉諸賢,其有敢於斯乎?

進公之事,余樂乎誌之;進公之碑,余樂乎為之,使登斯寺,閱斯碑,或有所觀而感焉。參佛教以正人心,挽頹風以存國粹,推之阮公徇國如來捨身也。陶公靖國,目連督將也。女界如李太后慈悲救苦觀世音也。仰止行止,斯寺斯碑能言石或憑焉。

河城,慈廉,安決,丙午舉人安山居士,菊香-黃叔會恭撰。

阮朝保大捌年歲在癸酉仲秋月佛歡喜日。

本寺住持僧主阮維進敬書恭攜。

Phiên âm

Phú Thị – Đại Dương tự bi

Nam Mô A Di Đà Phật

Phạn vũ nhật khai quang chiếu đại thiên thế giới;

Bi văn kỷ niệm linh truyền hữu ức Xuân Thu.

Hồng hà chi Bắc sổ lý gian, Phú Thị – Đại Dương tự cổ hỹ. Tăng Tiến công dư sở dữ du dã. Tăng cận lai thư tả kiểm duyệt nhật bất hạ cấp, đại hữu công ư thiền điển. Khách Đông nghệ dư từ viết: “Tự tuế Canh Ngọ bản ấp thỉnh tăng trác tích bản tự, phàm sở ứng biện dĩ thứ đệ cử thỉnh bi chi, phi cảm tự tự dã, truyền chư hậu dĩ tư khảo hiệt nhĩ”. Đôn dư lâm tự, dục sử thân thân kiến chi dã.

Dư phát yên hoàn cảnh dĩ quan tự. Nội hữu tiết nghĩa bi, tiền hữu từ tự dương thần, tả hữu từ tự âm thần, quân do tăng chủ tự, hồi lang liên hoàn môn dịch tương thông nhất trang nghiêm phạm vũ dã. Bi dữ ký hạnh do hữu tồn giả. Án chi tự, Lý triều đệ tam đế Hoàng thái hậu Ỷ Lan phu nhân sở sáng dã.

Tiết nghĩa tắc bản ấp nhân, Lê – Cảnh Hưng Tiến sỹ Nguyễn công Đức Ninh, đốc Cao Bình, thổ tù phạm Thuận công lực chiến tử chi, quyến cập thuộc phàm nhị thập bát nhân giai tuẫn tiết tự vu tự.

Dương thần Đào tướng quân, Đinh công thần dã, bình sứ quân lập quốc thống, vi nhất thời quan.

Tả âm thần từ tức Ỷ Lan phu nhân dã. Phu nhân chi tiềm đức ý hạnh, thục bần giá quan. Đương thời tụng viết: “Quán Âm”, nữ sử tường chi hỹ. Chính khí hùng phong, khổn phạm mẫu nghi, thiên tải đại vận, sự tất vu tư tự nhi đắc chi. Nhược tự chi sở dĩ tự giả, Thiền tông dã. Trần triều hữu nhân yên, đồng hữu thiện niệm, khuynh dũng phóng kỳ, Phật tính dã; trưởng nhi thụ trì thủ giới hạnh, minh thiền chỉ, tứ thập niên thuyết pháp, thất thập sở định thần, Đông Sơn Hòa thượng kỳ nhân dã. Trinh tường kế đăng thâm đắc Đông Sơn chi y bát. Kim tự nhất đề, cửu trùng cảm ngộ, tứ hiệu viết “Chính Tín Thiền sư”. Đãi phù bản ấp Nguyễn công húy Văn Quế giả dĩ Nho môn gia huấn vi Thích giáo tông truyền, tu tự, trí điền đại hữu công ư thiền vũ, mông phong Tiến công lang, Phổ Tế Thiền sư. Bỉ liệt vị tôn giả Thiền uyển hữu quang hỹ.

Kim Tiến công trụ trì vu tư, hữu dĩ kế kỳ phương phong vĩ tích phủ hồ? Viết vị hữu tri. Nhưng dĩ hiện tượng quan nhược sở vi, diệc túc dĩ chương kỳ mĩ, vu thời quyết hậu, dư kỳ biểu nhi xuất chi. Hoặc ngữ dư viết: Phật thuyết dữ Nho giáo dị, thả thời đại văn minh, thần Phật hoang đản, Nho trung nhân hà cức cức yên vi truy lưu nhị nhu, luân ư thiền hồ?

Ứng chi viết: Luân ư thiền sở dĩ bổ ư Nho dã. Ngã quốc nhĩ lai Nho học bất giảng, thế tắc nhiên nhĩ. Âu hải phong trào, bành phái vu Đông dương, vật chất khoa học, tuy vân thượng tiến, nhi tân cựu chi giao, nhân tâm phong tục đãi, bất khả vấn hỹ. Phật giáo kì cứu thời chi cấp vụ dư!

Bỉ phu đoạn lục căn, tĩnh lục trần, giới tham sân si, tuyệt dâm sát đạo, như thảo khiết tố kỳ hữu tứ khẩu phục dĩ điển thiên vật giả hồ?

Tùy duyên hỷ xả kỳ hữu một liêm sỷ dĩ xu danh lợi giả hồ?

Phi truy quải nạp, viễn thanh tuyệt sắc, kỳ hữu cẩm la xa xỉ, thậm ư thiên tai lan xạ huân thước độc ư nhân đạo giả hồ? Thả dã, luân hồi họa phúc, địa ngục quả báo, kỳ thuyết vưu túc dĩ động nhân nhi cảnh tục, cực trí ư tự do bác ái, lân mẫn tứ sinh côn trùng thảo mộc bất cảm hủy thương. Thị phù nhược nhục cường thực, bi vũ yên phong, phục thi bách vạn lựu huyết thiên lý giả. Hựu hà như tích Tấn – Đỗ Dự chú chung, Đường – Bùi Độ tạo tự, dữ ngã quốc Huyền Quang Trạng nguyên chi đầu Phật, Đọi Sơn Thám hoa chi xuất gia, Nho nhi thiền giả nan dĩ hiệu cử chư hiền, kỳ hữu cảm ư tư hồ?

Tiến công chi sự, dư lạc hồ chí chi; Tiến công chi bi, dư lạc hồ vi chi, sử đăng tư tự, duyệt từ bi, hoặc hữu sở quan nhi cảm yên. Tham Phật giáo dĩ chính nhân tâm, vãn đồi phong dĩ tồn quốc túy, suy chi Nguyễn công tuẫn quốc Như Lai xả thân dã. Đào công tĩnh quốc, Mục Liên đốc tướng dã. Nữ giới như Lý Thái hậu từ bi cứu khổ Quán Thế Âm dã. Ngưỡng chỉ hành chỉ, tư tự tư bi năng ngôn, thạch hoặc bằng yên.

Hà thành, Từ Liêm, An Quyết, Bính Ngọ Cử nhân An Sơn cư sỹ, Cúc Hương – Hoàng Thúc Hội cung soạn.

Nguyễn triều Bảo Đại bát niên tuế tại Quý Dậu trọng thu nguyệt Phật hoan hỷ nhật.

Bản tự trụ trì tăng chủ Nguyễn Duy Tiến kính thư cung huề.

Dịch nghĩa

Bia chùa Đại Dương – Phú Thị 

Chùa ngày một mở rộng, ánh sáng chiếu khắp đại thiên thế giới;

Văn bia ghi kỉ niệm, linh nghiệm truyền muôn năm.

Khoảng vài dặm về phía Bắc sông Hồng có một ngôi chùa cổ là Đại Dương – Phú Thị. Người thầy chùa có tên là Tiến là chỗ giao du với tôi. Thời gian gần đây ngài bận rộn về việc viết sách và kiểm duyệt, việc ấy thực đủ có công đức lớn với điển tịch nhà thiền.

Vào dịp mùa Đông có vị khách đến thăm tôi và có lời rằng: “Từ năm Canh Ngọ, bản ấp có thỉnh mời Tăng về chùa trụ trì. Hết thảy những trao đổi hỏi đáp, lựa chọn lần lượt theo thứ tự xin tạc vào đá, chẳng dám tự ý sắp bày, để lưu truyền cho đời sau, có tư liệu mà khảo cứu vậy”. Rồi đốc thúc tôi đến thăm chùa, ý muốn đích thân quan sát vậy. Tôi lên đường đến nơi và đi quanh thăm chùa.

Bên trong có một bia tiết nghĩa, phía trước có một miếu thờ dương thần, bên trái miếu thờ âm thần đều do tăng trụ trì thờ cúng. Hành lang đầu hồi có cửa nách liền thông với một ngôi chùa trang nghiêm. Bia và văn tự trên bia may mắn đều còn.

Xét về chùa, thì do vị Hoàng hậu của vua thứ ba triều nhà Lý, là Ỷ Lan phu nhân cho khởi xây dựng vậy.

Về tiết nghĩa thì người ở bản ấp, Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê thi đỗ Tiến sỹ, có họ Nguyễn, hiệu là Đức Ninh,5 đốc suất đất Cao Bình,6 tù trưởng ở đất ấy xâm phạm vào miền đất Thuận, ngài ra sức chiến đấu, và bị tử trận, người thân trong nhà và thuộc hạ của ngài cả thảy hai mươi tám người đều tuẫn tiết và được thờ tại chùa.

Dương thần thì thờ tướng quân có họ Đào, là công thần của vua Đinh, đại công thần bình định mười hai sứ quân, lập quốc thống.

Miếu thờ âm thần ở bên trái, tức thờ Ỷ Lan phu nhân vậy. Mỹ đức trầm tiềm, đoan ý chính hạnh, giúp người nghèo, gả chồng cho đàn bà goá, các bậc già cả đương thời ca tụng bà là  Phật Quán Âm, sự ấy tỏ tường trong lịch sử hàng nữ lưu vậy. Chính khí hùng phong, là mẫu nghi cung khuyết, nghìn năm phong nhã, việc thành tựu thống quát ở tại chùa này mà được.

Còn như chùa sở dĩ là chùa, ấy là tông Thiền. Thời nhà Trần có người thực như thế vậy. Khi còn đồng ấu đổ giỏ cáy, ấy là Phật tính vậy.7 Trưởng thành thì thụ trì giới hạnh, sáng rõ thiền chỉ. Bốn mươi năm thuyết pháp, bảy mươi định thần8 ấy chính là Đông Sơn Hòa thượng.9 Tốt lành nối đạo thống, thụ trì y bát của Hòa thượng Đông Sơn, đề một chữ vàng, ơn vua cảm ngộ ban cho hiệu là Chính Tín Thiền sư. Cho đến khi bản ấp có ngài họ Nguyễn, húy là Văn Quế đem Nho đạo gia huấn làm Phật giáo truyền tông, sửa chùa, đặt ruộng công ấy thực lớn đối với nhà chùa. Được đội ơn phong là Tiến Công Lang Phổ Tế Thiền sư. Các vị tôn quý ấy, thực là mẫu mực trong vườn Thiền10 vậy.

Nay ngài Tiến trụ trì ở đây. Có thể kế nối được uy phong nức tiếng, tích nghiệp lớn lao ấy chăng?

Rằng, chưa biết được. Nhưng lấy hiện tượng mà xét những việc ngài ấy làm, cũng đủ để làm làm rạng rỡ cái đẹp ấy cho đương thời và mai sau vậy.

Tôi biểu dương mà nêu tỏ việc ấy. Hoặc cũng có người nói với tôi: Thuyết của Phật và của Nho khác nhau, vả lại thời đại văn minh, thần Phật hoang đản, trong hàng nhà Nho ai là người gấp lòng vì dòng nhà Phật mà vùi mình chìm đắm trong dòng thiền đây? Tôi ứng lại rằng: trầm tiềm trong dòng thiền có thể bổ túc thêm cho Nho đạo vậy. Nước ta gần đây, Nho học chẳng giảng cứu, chính vì thời thế mà thôi.

Phong trào Âu Tây lan tỏa ở cõi Đông dương, khoa học vật chất, tuy nói là thượng tiến, mà mới cũ giao thoa, lòng người, phong tục trễ nải chẳng thể hỏi bàn vậy. Phật giáo có lẽ là môn ngành cấp vụ để cứu đời một thời chăng! Người kia11 đoạn lục căn,12 tịnh lục trần,13 răn chừng tham, sân, si;14 dứt tuyệt tà dâm, sát sinh, trộm cắp, thân thanh tịnh, miệng ăn tray, ấy là tray miệng ăn, tịnh bụng đói để dứt trừ phẩm vật, là tùy duyên hỷ xả. Còn như có người đánh mất liêm sỉ mà chạy theo danh lợi được chăng! Khoác y tu, bận áo vá, lánh thanh âm, đoạn sắc tướng. Ấy có áo gấm xa hoa, hơn cả thiên tai, hương nức huân vùi, làm hoen ố đối với nhân đạo đó chăng! Lại nữa, luân hồi họa phúc, địa ngục quả báo, những thuyết ấy cũng đủ để rung động lòng người, mà cảnh tỉnh phong tục, tột cùng đến tự do bác ái, thương xót tứ sinh,15 côn trùng thảo mộc chẳng nỡ làm hủy thương, nhìn thịt mềm miễn cưỡng ăn, bia đá trải gió mưa khói tỏa, thây nằm trăm vạn, máu chảy muôn dặm. Lại còn như Đỗ Dự thời Tấn đúc chuông, Bùi Độ đời Đường xây chùa, cho đến nước ta thì có ngài Trạng nguyên Huyền Quang xuất gia đầu Phật, ngài Thám hoa ở Đọi Sơn xuất gia, cả Nho hay Phật thực khó mà nêu ra chỗ cứu cánh. Các bậc hiền giả có lẽ cũng ưu tư về chỗ này chăng!

Công việc của ngài Tiến, tôi vui mừng điều ấy mà ghi chép lấy, bia đá của ngài Tiến, tôi tán thán mà vui làm, để mà dâng lên chùa. Hiệu duyệt bia này, hoặc có chỗ xem mà rung cảm, tham quan Phật pháp mà ngay chính lòng người, kéo vãn phong hóa suy đồi mà bảo tồn quốc túy. Suy ngẫm điều ấy, thì ngài họ Nguyễn tuẫn tiết vì việc nước cũng giống như Đức Như Lai xả thân vậy, ngài họ Đào bình định thống nhất cũng giống như Mục Kiền Liên đốc tướng quân vậy. Nữ giới như ngài Lý Thái hậu từ bi cứu khổ cũng giống như Phật Quán Âm vậy. Ngưỡng trông kính cẩn mà trông chùa này, bia đá này có thế gửi vào đá hoặc cũng có thể dùng làm bằng cứ vậy.

An Quyết – Từ Liêm – Hà Nội, Hoàng Thúc Hội – hiệu Cúc  Hương – Yên Sơn cư sĩ – Cử nhân khoa thi năm Bính Ngọ, kính soạn.

Ngày rằm tháng 8 năm Quý Dậu – Năm thứ tám niên hiệu Bảo Đại (1933).

Trụ trì chùa này, tăng Nguyễn Duy Tiến kính khắc.

Phân tích nội dung văn bia

Như trên đã dịch chú, chúng tôi nhận rặng nội dung văn bia đại lược chia làm ba phần. Phần thứ nhất ghi vị trí chùa, mô tả không gian bố trí kiến trúc và thờ tự khi quan Cử nhân Hoàng Thúc Hội đến thăm chùa. Phần thứ hai ghi người cho xây chùa và một số danh tăng để lại dấu ấn với chùa. Phần ba ghi tâm sự của quan Cử nhân về thầy trụ trì chùa đương thời là thầy Nguyễn Duy Tiến.

Như vậy, xét về vị trí chùa trong thế đối sánh tự nhiên thì chùa nằm ở phía Bắc sông Hồng, cách sông vài dặm. Về mặt thời gian và người cho khởi công xây chùa, căn cứ trong văn bia thì do Hoàng thái hậu Ỷ Lan cho xây, và đương nhiên về thời gian cũng là cùng thời với thời gian trong khoảng Hoàng thái hậu trụ thế (1044- 1117). (按之,寺李朝第三帝皇太后倚蘭夫人所創也。Án chi tự, Lý triều đệ tam đế Hoàng thái hậu Ỷ Lan phu nhân sở sáng dã./ Xét về chùa, thì do vị Hoàng hậu của vua thứ ba triều nhà Lý, là Ỷ Lan phu nhân cho khởi xây dựng vậy.

Xét về góc độ thờ tự, trong văn bia chỉ nhắc đến có nhà thờ tướng quân Đào Liên Hoa,16 thờ vị tiết nghĩa Nguyễn Hàn, hiệu Đức Ninh và gia quyến và thờ Hoàng hậu Ỷ Lan.)

(節義則本邑人,黎景興進士阮公德寧,督高平,土酋梵順公力戰死之,眷及屬凡二十八人皆徇節祀于寺。陽神陶將軍,丁功臣也,平使軍立國統,為一辰冠。

左陰神祠即倚蘭夫人也。Tiết nghĩa tắc bản ấp nhân, Lê – Cảnh Hưng Tiến sỹ Nguyễn công Đức Ninh, đốc Cao Bình, thổ tù phạm Thuận công lực chiến tử chi, quyến cập thuộc phàm nhị thập bát nhân giai tuẫn tiết tự vu tự. Dương thần Đào tướng quân, Đinh công thần dã, bình sứ quân lập quốc thống, vi nhất thời quan. Tả âm thần từ tức Ỷ Lan phu nhân dã. / Về tiết nghĩa thì người ở bản ấp, Niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê thi đỗ Tiến sỹ, có họ Nguyễn, hiệu là Đức Ninh,17 đốc suất đất Cao Bình,18 tù trưởng ở đất ấy xâm phạm vào miền đất Thuận, ngài ra sức chiến đấu, và bị tử trận, người thân trong nhà và thuộc hạ của ngài cả thảy hai mươi tám người đều tuẫn tiết và được thờ tại chùa.

Dương thần thì thờ tướng quân có họ Đào, là công thần của vua Đinh, đại công thần bình định mười hai sứ quân, lập quốc thống.

Miếu thờ âm thần ở bên trái, tức thờ Ỷ Lan phu nhân vậy).

Từ dẫn chứng về mặt bố trí kiến trúc, cũng như thờ tự ghi trong bia đối chiếu với hiện tại ngày năm (2023) là có sự thay đổi.

Một số danh tăng thiền sư ghi trong bia được nhắc đến như: Chân Dung Tông Diễn, Chính Tín thiền sư, Tiến Công Lang Phổ tế Thiền sư.

(若寺之所以寺者,禪宗也。陳朝有人焉,童有善念,傾筩放蜞佛性也,長而受持守界行,明禪指,四十年說法,七十所定禪,東山和尚其人也。禎祥繼燈深得東山之衣鉢。金字一題,九重感悟,賜號曰『正信禪師』。迨夫本邑阮公諱文桂者以儒門家訓為釋教宗傳修寺,置田大有功於禪宇,蒙封進功郎,普濟禪師。Nhược tự chi sở dĩ tự giả, Thiền tông dã. Trần triều hữu nhân yên, đồng hữu thiện niệm, khuynh dũng phóng kỳ, Phật tính dã; trưởng nhi thụ trì thủ giới hạnh, minh thiền chỉ, tứ thập niên thuyết pháp, thất thập sở định thần, Đông Sơn Hòa thượng kỳ nhân dã. Trinh tường kế đăng thâm đắc Đông Sơn chi y bát. Kim tự nhất đề, cửu trùng cảm ngộ, tứ hiệu viết “Chính Tín Thiền sư”. Đãi phù bản ấp Nguyễn công húy Văn Quế giả dĩ Nho môn gia huấn vi Thích giáo tông truyền, tu tự, trí điền đại hữu công ư thiền vũ, mông phong Tiến công lang, Phổ Tế Thiền sư./ Còn như chùa sở dĩ là chùa, ấy là tông Thiền. Thời nhà Trần có người thực như thế vậy. Khi còn đồng ấu đổ giỏ cáy, ấy là Phật tính vậy.19 Trưởng thành thì thụ trì giới hạnh, sáng rõ thiền chỉ. Bốn mươi năm thuyết pháp, bảy mươi định thần20 ấy chính là Đông Sơn Hòa thượng.21 Tốt lành nối đạo thống, thụ trì y bát của Hòa thượng Đông Sơn, đề một chữ vàng, ơn vua cảm ngộ ban cho hiệu là Chính Tín Thiền sư. Cho đến khi bản ấp có ngài họ Nguyễn, húy là Văn Quế đem Nho đạo gia huấn làm Phật giáo truyền tông, sửa chùa, đặt ruộng công ấy thực lớn đối với nhà chùa. Được đội ơn phong là Tiến Công Lang Phổ Tế Thiền sư).

Quả như vậy thì ngôi chùa cổ, có lịch sử hơn một ngàn năm nay đã từng là nơi tu hành, hay có dấu ấn ảnh hưởng của một số thiền tăng tu thiền, không những thế còn có dấu ấn của thiền phái Tào Động tông. Ví như Thiền sư Chân Dung Tông Diễn là đệ nhị tổ của Tào Động tông.

Phần cuối nội dung văn bia ghi tâm sự, cũng đồng thời là sự tin cậy của quan Cử nhân Hoàng Thúc Hội đối với đương nhiệm Trụ trì Nguyễn Duy Tiến. Đang buổi giao thời, mưa Âu gió Á, Đông Tây tế hội. Văn minh vật chất của Âu Tây du nhập vào cõi Nam ta, những gì là chân quý, là thường hằng, tôn giáo mà cụ thể Phật đạo và Nho học chịu sự ảnh hượng rất lớn vì thời thế.  

3. Kết Luận

 Nhận định

Qua việc chế bản chữ Hán, phiên âm, dịch chú và phân tích văn bia như trên đã trình bày. Chúng tôi lược nhận rằng, những thông tin ghi trong văn bia có giá trị quan trọng đối với việc khảo cứu về lịch sử của chùa, cũng như các danh tăng để lại dấu ấn đối với chùa.

Những gợi mở

Những thông tin này khi đối chiếu với những tài liệu tham khảo hiện có, chúng tôi nhận thấy còn có chỗ chênh lệch, và cũng có những thông tin ghi trong bia mà chưa tìm thấy ở một nguồn tài liệu khác. Ví dụ như tôn danh “Chính Tín Thiền Sư” là thiền sư nào?. Hay vua ban mỹ tự “Tiến Công Lang Phổ Thiền Sư” là thiền sư nào?.v.v. Đây là những tồn nghi chúng tôi mong muốn sẽ tìm được câu giải đáp trong các bài viết tiếp theo.

Chú thích

1. Bia Trung Nghĩa Lý lập năm 1764. Trong Tư liệu lịch sử quê hương Sủi.
2.
Gia phả họ Trần ở Phú Thị – mục nguyên quán và địa lý hành chính Kinh Bắc của Nguyễn Văn Huyên. Trong Tư liệu lịch sử quê hương Sủi
3. Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1981). Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX (Thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra)
4. Bia dựng ngày 15 tháng 2 năm Quý Dậu niên hệu Đức Long năm thứ 5, Triều Lê (1633).
5. Bản Hán văn không ghi đích xác tên tự hay tên hiệu là Đức Ninh. Chúng tôi căn cứ vào nội dung của một tấm bia khác trong chùa thì có ghi hiệu của ngài là Đức Ninh.
6. Tức là vùng đất Cao Bằng ngày nay.
7. Đây nói về câu chuyện Hòa thượng Chân Dung Tông Diễn. Khi ngài còn nhỏ, một hôm mẹ ngài sai ngài ở nhà giã con cáy để nấu cơm. Nhưng khi ngài thấy những con cáy chảy ra những bọt trắng như đang khóc, ngài động lòng thương và mở nắp giỏ thả cả chúng đi.
8. Chưa rõ định thần là nhập tịch ở tuổi 70 hay là định thần ở 70 chỗ.
9. Hòa thượng Tông Diễn ở núi Đông Sơn.
10. Nguyên chữ là Thiền uyển: Nghĩa đen là  Vườn thiền, tức chỉ các vị tu thiền . Thiền Uyển ở đây có lẽ là tên sách, nhưng chúng thôi chưa thực rõ là “Thiền Uyển Kế Đăng Lục”, hay “Thiền Uyển Truyền đăng lục”. Đây là những quyển sách ghi chép về các vị tổ bên nhà Phật ở nước Nam ta.
11. Chỉ ngài Tiến.
12. Lục căn: ngôn ngữ nhà Phật: Lục căn gồm:  Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
13. Sáu trần: sáu đối tượng của lục căn: sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần.
14. Nhà Phật gọi Tham lam, Sân hận, Si mêlà ba thứ độc.
15. Tứ sinh: Noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh và thai sinh. Tiếng nhà Phật. chỉ chúng hữu tình đều được sinh ra theo bốn đường: Noãn sinh: sinh nở từ trứng ra, như gà, vịt, chim, rắn.v.v. Thấp sinh: từ trong ẩm thấp, trong thịt thối, xác chết.v.v. mà sinh ra, như ròi bọ.v.v. Hóa sinh: như chư thiên, đại địa ngục. các loài này có khả năng hóa hiện lập tức mà sinh ra với thân hình đầy đủ. Thai sinh: sinh ra từ trong bào thai, như người, thú.v.v.
16. Ngày nay đang thờ ngài làm Thành hoàng.
17. Bản Hán văn không ghi đích xác tên tự hay tên hiệu là Đức Ninh. Chúng tôi căn cứ vào nội dung của một tấm bia khác trong chùa thì có ghi hiệu của ngài là Đức Ninh.
18. Tức là vùng đất Cao Bằng ngày nay.
19. Đây nói về câu chuyện Hòa thượng Chân Dung Tông Diễn. Khi ngài còn nhỏ, một hôm mẹ ngài sai ngài ở nhà giã con cáy để nấu cơm. Nhưng khi ngài thấy những con cáy chảy ra những bọt trắng như đang khóc, ngài động lòng thương và mở nắp giỏ thả cả chúng đi.
20. Chưa rõ định thần là nhập tịch ở tuổi 70 hay là định thần ở 70 chỗ.
21. Hòa thượng Tông Diễn ở núi Đông Sơn.

Tài liệu tham khảo.

  1. Ban quản lý di tích Phú Thị Gia Lâm- Hà Nội, Tư liệu lịch sử quê hương Sủi, 2004.
  2. Lê Ngọc Quang, Phật giáo huyện Gia Lâm, lịch sử, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Nxb Tôn giáo, 2023.
  3. Ngô Đức Thọ, Nguyên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn Hóa, 1997.
  4. Thích Thọ Lạc – Chu Văn Tuấn, Thiền phái Tào động ở Việt Nam, (đồng chủ biên), Nxb Khoa học Xã hội, 2020.

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Phú Thị đại Dương Tự Bi

Nội dung chính

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Banner App ChỐn ThiÊng 3 (60x90)