Hòa Thượng Phúc Điền

Hòa Thượng Phúc Điền

Xuất thân và hoạt động


Hòa thượng Phúc Điền họ Vũ sinh tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), tại thôn Trung Thịnh, xã Bạch Sam, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội (nay là xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Cha ông họ Vũ, mẹ họ Lê. Bản tính thông minh ham học, lúc nhỏ thường theo bà đi lễ chùa làng.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Hòa thượng đến khai hóa ở chùa Phú Nhi, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây.

Ông sớm ngộ đạo Phật, năm 12 tuổi, xuất gia đầu Phật theo học hòa thượng Viên Quang Hải Tiềm tại chùa Đại Bi xã Thịnh Liệt, Huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Năm 15 tuổi, ông y theo tổ Từ Phong Hải Quýnh ở chùa Phúc Xuân xã Nam Phiên, được thụ giới Sa Di, pháp danh là Tịch Tịch.

Năm 20 tuổi, ông đến chùa Đại Thiền (xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn) y theo hòa thượng Tịch Giảng Vô Tư.

Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), nhờ sự trợ duyên của Tổng đốc Nguyễn Đăng Giai, Hòa thượng đến khai hóa chùa Đại Giác xã Bồ Sơn, huyện Quế Giang, tỉnh Bắc Ninh. Tại đây Hòa thượng bắt đầu biên soạn và ấn tống kinh sách. Phần lớn những tác phẩm kinh Phật do Hòa thượng biên soạn hoặc hiệu đính đều khắc in vào thời gian này. Đáng tiếc là ngôi chùa này đã bị phá hủy trong thời kháng chiến chống Pháp, hiện chỉ còn 4 tòa tháp cổ.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Hòa thượng đến khai hóa ở chùa Phú Nhi, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây.

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1848), lại nhờ sự giúp đỡ của Tổng đốc Hà Nội Nguyễn Đăng Giai, Hòa thượng đứng ra kiến tạo chùa Liên Trì huyện Thọ Xương, Hà Nội, qui mô chùa to lớn bậc nhất Hà Thành lúc bấy giờ. Đồng thời Liên Trì cũng trở thành trung tâm in ấn kinh sách. Ngày nay ngôi chùa không còn nữa. Theo các nhà Hà Nội học cho biết, chùa Liên Trì nằm ở khu vực Bưu điện Hà Nội. Hiện nay bên bờ hồ Hoàn Kiếm còn lại ngôi tháp Hòa Phong, vốn là di tích của chùa Liên Trì.

Năm Tự Đức thứ 7 (1854) Hòa thượng nhận lời mời của sư tổ Phổ Minh sang kế tục trụ trì chùa Liên Phái. Từ đó Hòa thượng đứng ra tổ chức tôn tạo lại chùa, khiến cho chùa được qui mô, khang trang lộng lẫy. Cho đến ngày nay, các tọa điện thờ trong chùa Liên Phái dường như vẫn được bảo toàn nguyên vẹn. Đặc biệt trong chùa còn bảo lưu được kho ván khắc in kinh lớn nhất hiện nay. Năm 1996, số ván khắc này đã được đưa về nơi cất giữ chắc chắn hơn, đó là kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Hà Nội.

Trong quá trình tu tập nghiên cứu của mình, Hòa thượng còn lui tới rất nhiều chùa khác như chùa Báo Thiên, chùa Địa Linh (Tây Hồ), chùa Hàm Long – Hà Nội, chùa Hàm Long, chùa Thiên Phúc ở Bắc Ninh.

Trong thời Minh Mệnh (1820-1840), Hòa thượng Phúc Điền được triệu về kinh đô Huế tham dự kỳ hiểm hạch về ý nghĩa kinh tạng, đã được triều đình cấp cho giới đao và Độ điệp, cho phép chiêu tập đệ tử và hoằng dương Phật pháp. Cũng nhờ duyên này mà Hòa thượng có điều kiện biên soạn sách vở diễn giải kinh Phật và ấn tống nhiều loại kinh sách.

Hòa thượng mất năm nào không rõ, chỉ biết ngài thọ 80 tuổi. Trong khoa cúng tổ ghi ngày kỵ của ngài là ngày 16 tháng 11 Âm lịch, có rất nhiều ngôi chùa lớn tổ chức lễ cúng tổ như chùa Liên Phái, Thuyền Quang, Hàm Long, Hà Nội.

Sau đó, ông được thụ Tì khưu Bồ Tát giới do tổ sư Tịch Chiếu chùa Hoa Lâm (xã Khê Hồi, huyện Thường Tín) làm thầy Yết Ma, và thầy Tịch Tính chùa Song Phúc làm thầy Giáo thụ.  Sau nhà vua mến mộ đạo hạnh của ông đã cho lập đàn ban sắc cho ông là Giới Đao Độ Điệp. Từ đó, danh tiếng của ông vang lừng khắp nước.

Tác phẩm


 
Từ khi ở kinh đô Huế trở về, ông ra sức hoằng dương Phật pháp bằng cách biên tập tống ấn kinh sách, giáo dục tăng tài, xây dựng chùa, tháp,…
Trong bài tựa Quốc âm tiểu dẫn 國音小引 có ghi mục lục các sách do ông biên tập, giải âm, ghi tự dẫn, lời bạt, chứng san như sau:
  1. Kim Cương Di Đà Kệ Chú Châm Minh
  2. Di đà kinh 彌陀 1 quyển,
  3. Quy sơn cảnh sách 2 quyển,
  4. Sa di sớ 2 quyển,
  5. Thiền lâm bảo huấn 4 quyển,
  6. Đại Đường Từ Nhân xuất gia châm 1 thiên,
  7. Di Sơn đại sư phát nguyện 1 văn,
  8. Vân thê phát nguyện 1 văn,
  9. Trúc song tùy bút 3 quyển,
  10. Hộ pháp luận 1 quyển,
  11. Khóa hư lục 3 quyển,
  12. Thái căn đàm 1 quyển,
  13. Tam giáo nhất nguyên 1 quyển,
  14. Nhân sinh nhất đán 1 văn,
  15. Bán điểm 1 văn,
  16. Hàn lâm sở 1 văn,
  17. Vương thị cảnh thế lương ngôn 1 thiên,
  18. Tân soạn Thích giáo chân ngôn 1 thiên,
  19. Tiên Nho hoằng luận 1 thiên,
  20. Thượng đường quốc ngữ 1 thiên,
  21. Phụng Phật tổ đối liên kỉ cú,
  22. Hoa nghiêm kinh sách kinh 82 quyển,
  23. Giải hoặc thượng hạ 2 quyển,
  24. Tân biên nhật tụng đồ 1 tập,
  25. Chư kinh nhật tụng 1 tập,
  26. Tì ni nhật tụng 1 tập,
  27. Tam giáo quản khuy Thích- Nho-Đạo 3 tập,
  28. Truyền đăng Phật tổ 5 quyển,
  29. Phật tổ thống kỉ cổ bản Phạn giáp ngữ  54 quyển,
  30. Kim vi phương sách 20 quyển,
  31. Tại gia tu trì đạo giáo nguyên lưu 2 quyển,
  32. Tiểu du già 1 quyển,
  33. Lễ thiên địa nhương tinh cập âm hồn bài vị 22 bài,
  34. Trùng khắc đại giới điệp 1 trương,
  35. Tân biên ngũ thập giới điệp 1 trương. 

Có nhà nghiên cứu chia thành 3 loại

  1. Sách chữ Hán hiện còn:
    1. Tam bảo hoằng thông.
    2. Đạo giáo nguyên lưu (còn gọi là Tam giáo quản khuy).
    3. Thiền uyển kế đăng lược lục.
    4. Tại gia tu trì Thích giáo nguyên lưu.
    5. Phóng sinh giới sát văn.
    6. Hiệu đính Phật tổ thống kỷ.
  2. Biên dịch, tức là diễn ra Quốc âm:
    1. Sa di luật nghi giả âm.
    2. Tam giáo nhất nguyên giả âm.
    3. Hộ pháp luận diễn âm.
    4. Thái căn đàm diễn âm.
  3. In ấn các bộ:
    1. Kinh Hoa Nghiêm.
    2. Kim Cương Di Đà kệ chú chân kinh.
    3. Vô Lượng Thọ kinh.
    4. Đại phương tiện Phật giáo báo ân kinh chú nghĩa.
    5. Giải hoặc biên.
Các sách kể trên đều được san khắc từ năm 1840 đến 1861, Môn nhân Văn Đường viết chữ. Tuy nhiên, các thư viện VNCHN, thư viện Quốc gia, thư viện chùa Quán Sứ chỉ còn lưu lại khoảng 10 bộ kinh sách do ông biên soạn và giải âm.

Sự nghiệp hoằng pháp


Trong suốt cuộc đời tu hành giáo dục tăng tài, Phúc Điền hòa thượng đã trụ trì nhiều ngôi chùa tổ danh tiếng như Bồ Sơn (Bắc Ninh), Liên Trì (Hà Nội), Liên Phái (Hà Nội)…Vì danh tiếng, đức hạnh và pháp tuệ của ông, nhiều người đã xuất gia xin làm đệ tử, theo học đạo ông. Sách Thiền uyển truyền đăng lục (kí hiệu VHv.9 thư viện VNCHN) có ghi lại hàng chục hòa thượng, ni sư đến học ông và đều trở thành các danh tăng, như: Thiền sư Thông Huyền, Đại sư Chiếu Phương, Đại sư Phổ Quang, Đại sư Thanh Tùng, Đại sư Phổ Khiên, Thiền sư Lan Hương, Tì khưu Thanh Cần, Tì khưu Kim Tuế, Tì khưu ni Kim Đài… Nhiều vị sư đã kế tục sự nghiệp của ông cũng truyền bá đạo pháp, san khắc kinh sách, xây dựng chùa tháp.
Hòa thượng Phúc Điền viên tịch ngày 16 tháng 11 năm Tự Đức 16 (1863), hưởng thọ 80 tuổi. Phúc Điền hòa thượng là tổ thứ 7 của chùa Liên Phái, các thế hệ của ông truyền đăng tục diệm đến nay đã hơn 100 năm, hệ phái vô cùng rộng mở. Các kinh sách ông biên soạn và ấn tống rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo nước nhà. Phúc Điền sống qua ba đời vua triều Nguyễn. Hòa thượng không chỉ là một dịch giả, một nhà nghiên cứu, một tác gia văn học, công quả của ông có ý nghĩa to lớn đối với việc mở rộng thế hệ tăng môn các đời và có đóng góp nhất định đối với sự phát triển văn hóa Việt Nam nói chung.
 

Tham khảo


  1. Trần Trọng Dương, Nghiên Cứu Chữ Nôm Và Tiếng Việt Qua Các Bản Dịch Nôm Khóa Hư Lục, Nxb Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2012, tr.14-20)
  2. Ảnh: Tượng chân dung Hòa thượng Phúc Điền, chùa Hoàng Vân, Hà Nội. Điền dã cùng Thiền Phong Phạm Văn Tuấn, 25-11-2010.
  3. Vài nét về Hòa thượng Phúc Điền, tác giả sách Đạo giáo nguyên lưu. (TBHNH 1997)
Chấm điểm
Chia sẻ
HT Phúc Điền (2)

Nội dung chính

Hình ảnh
Địa điểm liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926