HT Phúc Điền (Meme (Vuông))

Hòa Thượng Phúc Điền

Địa điểm liên quan:

Xuất thân


Hòa thượng Phúc Điền họ Vũ sinh tháng 7 năm Giáp Thìn (1784), tại thôn Trung Thịnh, xã Bạch Sam, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội (nay là xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, Hà Nội). Cha ông họ Vũ, mẹ họ Lê. Bản tính thông minh ham học, lúc nhỏ thường theo bà đi lễ chùa làng. Ông sớm ngộ đạo Phật, năm 12 tuổi, xuất gia đầu Phật theo học hòa thượng Viên Quang Hải Tiềm tại chùa Đại Bi xã Thịnh Liệt, Huyện Thanh Trì, Hà Nội. Năm 15 tuổi, ông y theo tổ Từ Phong Hải Quýnh ở chùa Phúc Xuân xã Nam Phiên, được thụ giới Sa Di, pháp danh là Tịch Tịch. Năm 20 tuổi, ông đến chùa Đại Thiền (xã Phù Ninh, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn) y theo hòa thượng Tịch Giảng Vô Tư. Sau đó, ông được thụ Tì khưu Bồ Tát giới do tổ sư Tịch Chiếu chùa Hoa Lâm (xã Khê Hồi, huyện Thường Tín) làm thầy Yết Ma, và thầy Tịch Tính chùa Song Phúc làm thầy Giáo thụ. Tháng 5 năm Ất Mùi (1835), ông phụng chỉ vào kinh đô Huế dự kì thi sát hạch về kinh tạng. Sau nhà vua mến mộ đạo hạnh của ông đã cho lập đàn ban sắc cho ông là Giới Đao Độ Điệp. Từ đó, danh tiếng của ông vang lừng khắp nước.

Tác phẩm


 
Từ khi ở kinh đô Huế trở về, ông ra sức hoằng dương Phật pháp bằng cách biên tập, tống ấn kinh sách, giáo dục tăng tài, xây dựng chùa, tháp,… Trong bài tựa Quốc âm tiểu dẫn 國音小引 có ghi mục lục các sách do ông biên tập, giải âm, ghi tự dẫn, lời bạt, chứng san như sau: Kim cương kinh 金剛經 1 quyển, Di đà kinh 彌陀 1 quyển, Quy sơn cảnh sách 2 quyển, Sa di sớ 2 quyển, Thiền lâm bảo huấn 4 quyển, Đại Đường Từ Nhân xuất gia châm 1 thiên, Di Sơn đại sư phát nguyện 1 văn, Vân thê phát nguyện 1 văn, Trúc song 3 quyển, Hộ pháp luận 1 quyển, Khóa hư lục 3 quyển, Thái căn đàm 1 quyển, Tam giáo nhất nguyên 1 quyển, Nhân sinh nhất đán 1 văn, Bán điểm 1 văn, Hàn lâm sở 1 văn, Vương thị cảnh thế lương ngôn 1 thiên, Tân soạn Thích giáo chân ngôn 1 thiên, Tiên Nho hoằng luận 1 thiên, Thượng đường quốc ngữ 1 thiên, Phụng Phật tổ đối liên kỉ cú, Hoa nghiêm kinh sách kinh 82 quyển, Giải hoặc thượng hạ 2 quyển, Tân biên nhật tụng đồ 1 tập, Chư kinh nhật tụng 1 tập, Tì ni nhật tụng 1 tập, Tam giáo quản khuy Thích- Nho-Đạo 3 tập, Truyền đăng Phật tổ 5 quyển, Phật tổ thống kỉ cổ bản Phạn giáp ngữ  54 quyển, Kim vi phương sách 20 quyển, Tại gia tu trì đạo giáo nguyên lưu 2 quyển, Tiểu du già 1 quyển, Lễ thiên địa nhương tinh cập âm hồn bài vị 22 bài, Trùng khắc đại giới điệp 1 trương, Tân biên ngũ thập giới điệp 1 trương. 
 
Các sách kể trên đều được trưởng lão Hiệp Sơn môn san khắc từ năm 1840 đến 1861, Môn nhân Văn Đường viết chữ. Tuy nhiên, các thư viện VNCHN, thư viện Quốc gia, thư viện chùa Quán sứ chỉ còn lưu lại khoảng 10 bộ kinh sách do ông biên soạn và giải âm.

Hoạt động 


Trong suốt cuộc đời tu hành giáo dục tăng tài, Phúc Điền hòa thượng đã trụ trì nhiều ngôi chùa tổ danh tiếng như Bồ Sơn (Bắc Ninh), Liên Trì (Hà Nội), Liên Phái (Hà Nội)…Vì danh tiếng, đức hạnh và pháp tuệ của ông, nhiều người đã xuất gia xin làm đệ tử, theo học đạo ông. Sách Thiền uyển truyền đăng lục (kí hiệu VHv.9 thư viện VNCHN) có ghi lại hàng chục hòa thượng, ni sư đến học ông và đều trở thành các danh tăng, như: Thiền sư Thông Huyền, Đại sư Chiếu Phương, Đại sư Phổ Quang, Đại sư Thanh Tùng, Đại sư Phổ Khiên, Thiền sư Lan Hương, Tì khưu Thanh Cần, Tì khưu Kim Tuế, Tì khưu ni Kim Đài… Nhiều vị sư đã kế tục sự nghiệp của ông cũng truyền bá đạo pháp, san khắc kinh sách, xây dựng chùa tháp.
Hòa thượng Phúc Điền viên tịch ngày 16 tháng 11 năm Tự Đức 16 (1863), hưởng thọ 80 tuổi. Phúc Điền hòa thượng là tổ thứ 7 của chùa Liên Phái, các thế hệ của ông truyền đăng tục diệm đến nay đã hơn 100 năm, hệ phái vô cùng rộng mở. Các kinh sách ông biên soạn và ấn tống rất có ý nghĩa cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo nước nhà. Phúc Điền sống qua ba đời vua triều Nguyễn. Hòa thượng không chỉ là một dịch giả, một nhà nghiên cứu, một tác gia văn học, công quả của ông có ý nghĩa to lớn đối với việc mở rộng thế hệ tăng môn các đời và có đóng góp nhất định đối với sự phát triển văn hóa Việt Nam nói chung.
 
(nguồn: Trần Trọng Dương, Nghiên Cứu Chữ Nôm Và Tiếng Việt Qua Các Bản Dịch Nôm Khóa Hư Lục, Nxb Từ Điển Bách Khoa, Hà Nội, 2012, tr.14-20)
Ảnh: Tượng chân dung Hòa thượng Phúc Điền, chùa Hoàng Vân, Hà Nội. Điền dã cùng Thiền Phong Phạm Văn Tuấn, 25-11-2010.
Hình ảnh

Chia sẻ

Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *