Giới thiệu chung
Xuân Trường là vùng đất thuộc châu thổ sông Hồng, được bao bọc bởi 3 con sông: sông lớn Hồng Hà, nhỏ hơn là sông Sò, sông Ninh Cơ. Vùng đất ấy là nơi “đất lành, chim đậu” theo quá trình hình thành và phát triển hơn nghìn năm nay. Địa linh ắt sinh nhân kiệt, nơi đây cũng chính là quê hương của các bậc thạc đức cao Tăng được trải dài qua nhiều thế kỷ. Vào thời Lý, nơi đây chính là quê hương vị của hai vị Thiền sư nổi tiếng là Thiền sư Không Lộ và Thiền sư Giác Hải. Chốn già lam Nghĩa Xã (Viên Quang tự) cũng chính là nơi tu hành của đức vua Lý Nhân Tông và lương y Tuệ Tĩnh. Sang đến TK XX xuất hiện nhiều danh Tăng nổi tiếng như Tố Liên, Chí Hải, Đức Nhuận,… và nhiều vị danh Tăng khác. Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, Phật giáo Nam Định đã thể hiện được tinh thần nhập thế sâu sắc, với tư tưởng “công thành, thân thoái”, cùng với đó là hình ảnh “cởi áo cà sa khoác chiến bào” của 27 vị cao Tăng chùa Cổ Lễ (Ninh Trực, Nam Định) năm 1947, ngoài ra tại làng Kiên Lao (“kiên 堅” là cứng rắn, “lao 牢” là bền bỉ), chùa Sùng Phúc cũng có những đóng góp không nhỏ trong tiến trình xây dựng, phát triển đất nước và Phật giáo nước nhà.
Tọa lạc ở phía bắc xã Xuân Kiên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng hơn 20km về phía Đông Nam, Sùng Phúc tự có tên nôm theo tên làng là chùa Kiên Lao được biết đến là một trong những chốn danh lam, cổ tự của vùng.
Lịch sử chùa qua văn bia
Căn cứ tấm bia Chú tạo thánh tượng bi kí 鑄造聖像碑記 được soạn và viết năm Canh Tuất niên hiệu Duy Tân thứ tư (1910) hiện còn lưu tại đình Kiên Lao có nội dung viết như sau: “Từ khi Đô đài phát tích đến nay, mở mang đền thờ, tu sửa miếu vũ mà thờ tự. Đại để, bắt đầu từ sự khai sáng, nối tiếp nhau mà thành, trải qua các triều từ Đinh, Lê, Lý, Trần cho đến nay, hơn một ngàn năm, nghĩa vua tôi, tình cậu cháu, được ghi chép ở trong ngọc phả đấy”.
Cùng với đó, khi căn cứ vào văn bản sắc phong, ban vào ngày 26 tháng 7 năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), có nội dung ban cho hoàng đế Triệu Việt Vương, và ca ngợi công đức của Ngài, kèm theo đó là 2 vị tả hữu Đô Đài làm Thành hoàng của làng. Ta có thể xác định làng Kiên Lao được hình thành từ khoảng thế kỷ thứ VI trở về trước.
Từ những dẫn cứ trên, theo chúng tôi phỏng đoán trong quá trình khai hoang lập ấp của người dân Kiên Lao từ thế kỷ thứ VI, có thể đạo Phật cùng ngôi chùa Sùng Phúc từ đây mà tạo dựng.
Tiếp đến, trong tấm bia Long Hoa hội bi kí 龍 花 會 碑 記 có hai mặt được khắc vào thời Nguyễn (khoảng năm 1931 hoặc 1932) cho biết chùa Kiên Lao vào những năm Hoằng Định đã hư hỏng, và phải trùng tu, ngoài ra tấm bia cũng cho biết thêm về quá trình hưng công tu sửa lại chùa, về nội dung hai mặt của văn bia, xin lược trích như sau:
“Bản xã triều trước (triều Lê) đã có công khai sáng già lam, và nối đời trùng tu:
Vào khoảng triều Hoằng Định (1601-1619) có vị Tăng thống Lục ty tên là Trịnh Thiên Kim, tự Bảo Quang; thời vua Cảnh Trị (1663-1671) sư trụ trì tăng tự Huệ Nghĩa tự Viên Khánh hưng công, có vị Đô chỉ huy sung Trung hầu Nguyễn Viết Do góp công trùng tu, mở rộng; triều Gia Long (1802-1820) có vị được bầu hậu Phật là cựu Giáp trưởng Bùi Duy Văn có công trùng tu; thời vua Thiệu Trị (1841-1847) có vị đội trưởng Đinh Viết Bá góp công trùng tu; thời vua Tự Đức (1848-1883) có vị Tiên chỉ bản xã giữ chức Chánh tổng Bùi Viết Thuyên có công trùng tu.
(…)
Nay, hoàng triều Bảo Đại ngự vị đã bảy tám năm (khoảng năm 1931 hoặc 1932), sư trụ trì là Bùi Chính Am là người bản xã, chủ đăng đứng ra hưng công trùng tu chùa chiền, sửa sang cửa võng, sơn thếp tượng Phật, Ngài lại thiện duyên cùng quan viên bản xã, thiện tín thí chủ thập phương, cùng đồng tâm trước sau cúng tiến, ghi chép của tín chủ thập phương vào bia.
Bên cạnh đó, trong văn bia Sùng Phúc tự bi ký (không ghi niên đại tuy nhiên trên tấm bia được chạm trổ hoa văn thời Nguyễn) có bài tựa và minh ghi lại việc trùng tu lại chùa do“Sư trụ trì Huệ Nghĩa, pháp hiệu Viên Khánh muốn trùng tu. Các quan viên bản xã và đại ông Chí Tuấn cùng tín chủ thập phương tín thí công đức.”
Tấm bia này cũng cho biết thêm “chùa Sùng Phúc thực là thắng cảnh, cổ tích danh lam, trước có quả chuông lớn, lầu gác và tiền án cùng tường đá, nhà trên, dải vũ, có Hải Hội hoa sen (…) Khoảng năm kia tiến hành tạo chuông, lầu các, tiền án, tường hoa, thềm đá, nhà trên, lan can, Hải Hội, liên hoa,… cưu công hoàn thành. Nghiệm thấy phúc nay hơn phúc xưa, trang nghiêm tráng lệ hơn cũ, kính nguyện Phật phù trì, gia hộ để Tăng tu, thứ dân được trường thọ. Trời phù, thánh hộ, thần độ cho đời tốt đẹp ở chốn thọ vực; cho con cháu ngàn đời sau nối tổ danh hương…”
Khi căn cứ vào hệ thống văn bia còn lưu tại chùa, chúng tôi nhận thấy vào đầu thế kỷ XVII chùa Sùng Phúc (Kiên Lao) đã được xây dựng với kiến trúc bề thế, quy mô. Trong thời gian này, làng Kiên Lao cũng xuất hiện nhiều người thành đạt đảm nhận nhiều chức tước quan trọng trong triều đình Lê-Trịnh, và ở địa phương. Chính những vị chức sắc đỗ đạt, những bậc cao Tăng thạc đức cùng người dân đã xây dựng nhiều công trình của chùa, và có thể cả những cơ sở tâm linh khác trong địa phương. Nhất là vào triều Nguyễn, với những hạng mục cung tiến về nhân lực, vật lực, tài lực (gỗ lạt, tiền bạc, và ruộng đất), chùa được trùng tu với nhiều hạng mục như: nhà thờ Tổ, Thiêu hương, vườn tháp, tạc tượng, đúc chuông với đầy đủ cả đồ thờ tự và thực sự trở thành một trung tâm tín ngưỡng tâm linh của làng.
Sang TK XIX chùa lại trải qua nhiều đợt trùng tu khác nhau với nhiều hạng mục công trình khác nhau được chúng tôi khảo lại qua các văn bia như:
– Tấm bia Sùng Phúc tự bi ký năm Canh Ngọ niên hiệu Gia Long (1810) ghi chùa cho đúc một pho tượng Thánh Hiền lớn, và 14 pho tượng Phật.
– Tấm bia Sùng Phúc tự bi ký, niên hiệu Thiệu Trị thứ 5 (1846) cho biết chùa tiếp tục cho xây dựng thêm 1 tòa nhà 5 gian.
– Tấm bia Trùng tu Sùng Phúc tự, niên hiệu Tự Đức thứ 2 (1849) ghi việc tạo lệ, trạm trổ hoa văn hết thảy thềm và lan can đá.
Qua đây chúng tôi nhận thấy, đại đa số các bia tại Sùng Phúc tự mà chúng tôi khảo được đều ghi chép về quá trình hưng công, tu sửa lại chùa trải dài từ triều Lê đến triều Nguyễn qua các đời vua, vì vậy, ắt hẳn ngôi chùa này phải giữ vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống tín ngưỡng, là chỗ dựa tinh thần cho người dân Kiên Lao trước những biến thiên lịch sử.
Năm 1980, khi Hòa thượng Thích Thiện Tri được bổ nhiệm làm trụ trì chùa Sùng Phúc, trước cảnh hư hại của chùa theo thời gian, đặc biệt là khu tháp mộ, Hòa thượng đã cho trùng tu, quy hoạch, xây dựng lại khu vườn tháp, và kể từ đó đến nay, Thầy cũng đã cho trùng tu và xây dựng thêm nhiều hạng mục công trình kiến trúc như nhà Tổ đường, xây dựng giảng đường làm nơi dạy chữ Hán cho dân, dạy lễ nghi cho trẻ.
Tổ truyền thừa pháp mạch
Khu Vườn tháp
Khi tiếp cận một di tích Phật giáo, việc nghiên cứu tổ sư của các tự viện, sơn môn, hoặc truyền thừa pháp phái ấy là điều cần thiết, việc này cũng tương đồng với sự truy nguyên gia phả của một dòng tộc, gia đình vậy. Tuy nhiên với nguồn tư liệu hạn chế, ký ức của người đương thời bị đứt quãng, trong phạm vi một cuốn kỷ yếu này, chúng tôi, những người làm công tác sưu tầm, biên soạn tạm thời đối chiếu qua lời kể và những văn bản được khắc lại trên mặt bia đá, bước đầu liệt kê ra những vị trụ trì, hoặc Tăng tu, ngõ hầu giúp người đọc có manh mối ban đầu cho sự tìm tòi về sau, vì nguồn tư liệu về mặt văn bản có thể còn lẩn khuất, dòng ký ức của các nhân vật đương thời cũng chưa tập hợp được một cách có hệ thống. Theo đó, căn cứ vào những tháp mộ còn lưu tại chùa, và lời kể của sư trụ trì chúng tôi xin được liệt kê ra như sau:
- Thích Huệ Nghi
- Thích Huệ Trạch
- Sơ Thiền am có Tăng lục ty Tăng Thống Trịnh Thiên Kim
- Tháp Tịnh Quang có vị Tỷ khâu, pháp húy Đạo Hương, hiệu Thanh Phong
- Tháp Thanh Cao có vị Tỷ khâu, pháp húy Giác Trường, hiệu là Minh Chính thiền sư
- Tháp Kế Quang có vị Tỷ khâu, pháp húy Sinh Mỹ, hiệu là Cẩn Thận Bồ Tát
- Tháp An Tường có vị Tỷ khâu, tự là Quang Diệu, hiệu là Từ Mẫn Bồ Tát
- Tháp Tào Danh có vị Tỷ khâu, pháp húy Chính Am, hiệu là Y Luật Bồ Tát
- Tháp Kiên Hòa có vị Tỷ khâu, pháp hiệu Thích Thanh Khoa.
- Tháp Huy Thắng có vị Tỷ khâu pháp húy Đạo Hạnh, hiệu Thanh Phong Minh Minh Thiền sư
Ngoài ra, qua khảo sát văn bia tại chùa, chúng thấy vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, có sư trụ trì Huệ Nghi đã 2 lần đứng ra hưng công tôn tạo lại tự viện.
Kiến trúc nghệ thuật
Trải qua những thăng trầm lịch sử cùng với sự phá hoại của thiên tai, địch họa, không ít lần trùng tu mở rộng khiến những dấu tích kiến trúc chùa xưa bị thay đổi nhiều.
Ngày nay chùa được bao kín bằng hệ thống tường bao ngăn cách khuôn viên chùa với khu dân cư xung quanh, được xây dựng theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc (国). Theo trình tự từ ngoài vào trong các công trình kiến trúc của chùa Sùng Phúc hiện còn gồm những hạng mục công trình chính như: Tam quan – Thượng điện – Tam bảo – Nhà tổ, nhà Mẫu, khu vườn tháp và những công trình phụ trợ.
Tam quan chùa được xây mới tương đối đơn giản với thiết kế gồm 3 cửa vòm: cửa lớn ở giữa, hai cửa nhỏ ở 2 bên. Cửa lớn được thiết kế hai tầng 4 mái với đầu đao uốn cong.
Từ Tam quan, đi qua một khoảng sân rộng là tòa Thượng điện được dựng trên nền cao cách khoảng sân khoảng 90cm, Thượng điện có mặt bằng hình chữ nhất (一) mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn kiểu đầu hồi bít đốc, gồm 4 mái lợp ngói mũi hài, đầu đao uốn cong với các họa tiết vân mây.
Kết cấu bộ khung gỗ Thượng điện gồm vì nóc kiểu chồng rường, vì nách kiểu xen kẽ ván mê và bán giá chiêng được trang trí các họa tiết như long vân khánh hội cùng hình ảnh hoa cúc.
Tiếp đến là tòa Tam bảo được thiết kế gồm ba gian hai dĩ, hai bên đặt hai tượng hộ pháp khuyến thiện và trừng ác, ở giữa các gian được làm cửa võng sơn son thếp vàng, bên trong tòa Tam bảo đặt bộ tượng Tam Thế Phật, Quan Âm Chuẩn Đề, tượng Phật đản sinh,… Phía sau tòa Tam bảo là hậu cung có nhiều ban thờ phụ như Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Thị Kính, Tượng Phật Tuyết Sơn,… Chạy dọc hai bên hòa Tam bảo là nhà tả vu, hữu vu đặt tượng Thập bát la hán.
Hiện nay chùa còn giữ được 7 tòa tháp cổ, chứa xá lợi các vị Tăng tu, dựng theo phong cách kiến trúc thời Nguyễn, hoa văn long tinh hội đấu có họa tiết lá cúc, trong đó tháp lớn nhất có tên Kế Quang tháp, chứa xá lợi của Thiền sư Sinh Mỹ, hiệu là Cẩn Thận Bồ Tát.
Ngoài ra còn có khu nhà Tổ, nhà Mẫu và một vài công trình phụ trợ khác.
Lễ hội
Lễ hội chùa Kiên Lao được tổ chức vào ngày mùng 5 mùng 6 tháng Giêng, với nhiều các hoạt động văn hoá, văn nghệ, trò chơi dân gian sôi nổi, náo nhiệt như: hát chèo, hát ca trù, múa lân – sư – rồng, thổi cơm thi, giã bánh giầy…. Đặc biệt, trong lễ hội còn có các tiết mục đi kheo, đấu vật, cờ người hấp dẫn thu hút đông đảo nhân dân địa phương, du khách thập phương, nhất là con em xa quê hương về dự.
Kết Luận
Nhận định sơ bộ
Qua quá trình khảo sát điền dã, khảo cứu tư liệu, nhóm biên soạn chúng tôi tạm thời trình bày một cách sơ bộ về lịch sử của chùa Kiên Lao, căn cứ theo ngọc phả, qua văn bia, văn chuông từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, và lời kể của người đương thời từ giai đoạn đầu thế kỷ XX cho tới nay.
Những vấn đề gợi mở
Từ những nhận định sơ bộ ban đầu, chúng tôi thấy còn những vấn đề đang bỏ ngỏ mà trong phạm vi một cuốn kỷ yếu chưa thể giải quyết được:
– Chùa Sùng Phúc chính xác được khởi dựng vào thời gian nào?
– Ngôi chùa có liên quan đến hoàng thân, quốc thích hay không? Tại sao vào triều Lê -Trịnh lại có nhiều vị có phẩm hàm cao trong triều tham gia hưng công, tín thí, trùng tu, tôn tạo?
– Theo lời kể của sư trụ trì hiện tại “chùa theo Thiền phái Tào Động”. Vậy những vị tổ thuộc Tào Động tông từng trụ trì, hoặc tu hành tại chùa là những vị nào?
– Qua văn bia chúng tôi thấy có vị Tăng thống Trịnh Thiên Kim, nhưng tạm thời chưa truy tìm ra hành trạng.
– Vào triều Lê-Trịnh có sư trụ trì Huệ Nghi, pháp hiệu Viên Độ; thời Nguyễn có sư trụ trì Huệ Nghĩa, pháp hiệu Viên Khánh, hiện chúng tôi cũng chưa tìm ra hành trạng, và tông phái của các Ngài.
Trên đây là những vấn đề đặt ra, có thể làm tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo.
Tài Liệu Tham Khảo
- Khảo sát từ những tư liệu văn bia hiện còn lưu tại chùa
- Tư liệu phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiện Tri
- Thế Tâm – Đồng Ngọc Hoa, Lịch sử Phật giáo Nam Định,Nxb Tôn Giáo.