Chùa Khánh Long (Khánh Long Tự) thuộc làng Mỹ Dương, xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Làng Mỹ Dương là một trong ba làng của xã Hà Giang (Quan Chiêm, Chánh Lộc và Mỹ Dương).
Vị trí địa lý
Theo sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Mỹ Dương vốn là vùng đất nằm trong bộ Cửu Chân của nhà nước Văn Lang. Thời kỳ thuộc nhà Triệu và Hán, vùng đất này nằm trong huyện Tư Phố, đến thời Tam Quốc – Lương Tấn – Nam Bắc triều (từ năm 210 – 581), mảnh đất làng Mỹ Dương xã Hà Giang (Hà Trung) thuộc huyện Kiến Sơ, châu Ái. Thời thuộc Tùy – Đường (581 – 905), vùng đất Hà Trung trong đó có xã Hà Giang lại thuộc về huyện Nhật Nam, châu Ái. Dưới thời Đinh Lê vùng đất này vẫn gọi là châu Ái, đời Lý vào năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010) đổi châu Ái làm trại. Vào cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XII, nhà Lý đổi châu Ái thành phủ Thanh Hoa, Hà Trung vẫn là vùng đất thuộc huyện Sùng Bình và Nhật Nam, dưới huyện là các xã, hương. Thời Trần – Hồ, dưới đời vua Trần Thuận Tông, năm Quang Thái thứ 10 (1397), đổi phủ Thanh Hoa làm trấn Thanh Đô (gồm 7 huyện và 3 châu), xã Hà Giang, Hà Trung thuộc về huyện Tống Giang. Thời thuộc Minh, đổi trấn Thanh Đô thành phủ Thanh Hoa, mảnh đất Hà Trung vẫn được gọi là huyện Tống Giang. Thời Lê Trung Hưng gọi là huyện Tống Sơn. Đến đầu thời Nguyễn, huyện Tống Sơn thuộc phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa, bao gồm 4 tổng, 62 hương, xã, thôn. Làng Mỹ Dương thời kỳ này gọi là xã Bùi Xá (gồm có ba thôn: thôn Trạng Sơn, thôn Đà Sơn và thôn Nga Sơn) thuộc tổng Trung Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Từ 1945 – 1947 làng Mỹ Dương cùng với Quan Chiêm và Chánh Lộc thuộc xã Quang Trung, huyện Hà Trung. Từ tháng 9/1947 các xã này lại được tách ra khỏi xã Quang Trung và sáp nhập vào xã Tân Tiến. Sau năm 1954, huyện Hà Trung chủ trương chia lại các xã và đặt tên với chữ đầu là “Hà” để thành lập nên 25 xã mới, trong đó 3 làng Quan Chiêm, Chánh Lộc và Mỹ Dương thành lập nên xã Hà Giang. Từ đó đến nay làng Mỹ Dương vẫn thuộc về xã Hà Giang, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Làng Mỹ Dương về phía bắc giáp với Trung đoàn 27 (xã Hà Long); phía đông giáp với làng Đà (xã Hà Bắc); phía nam giáp với làng Đô Mỹ (xã Hà Tân); phía tây giáp với làng Quan Chiêm cùng xã.
Làng Mỹ Dương nói riêng và xã Hà Giang nói chung là một vùng bán sơn địa, nơi có những cánh đồng ruộng trũng, những đồi núi thấp thuận lợi cho con người sinh sống bằng việc trồng cấy lúa nước và trồng hoa màu trên đồi núi đất. Hệ thống sông Hoạt vừa cung cấp nguồn nước tưới tiêu, đánh bắt thủy sản đồng thời xưa kia là hệ thống giao thông đường thủy quan trọng. Chính vì những thuận lợi trên mà từ xa xưa vùng đất này đã có sức hấp dẫn, thu hút các luồng cư dân về đây sinh cơ lập nghiệp, hình thành nên làng xóm dân cư đông đúc.
Quá trình làm ăn sinh cơ lập nghiệp của bao thế hệ tại mảnh đất này, người dân Mỹ Dương đã tạo nên những nét sinh hoạt văn hóa của mình, đồng thời tiếp thu, chịu ảnh hưởng những giáo lý của đạo Phật. Chính vì thế, bà con dân làng đã xây dựng nên chùa làng để làm nơi gửi gắm tâm hồn lúc buồn vui.
Theo cuốn Lược sử làng Mỹ Dương cho biết: Chùa Khánh Long nhìn hướng chính Tây, chùa được khởi tạo thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 23 (tức 1763), do các vị sư tăng được phái từ chùa Linh Nha (tức chùa Dầu), xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình cùng các cụ tổ dòng họ Tống, họ Trịnh đã dựng nên ngôi chùa khang trang bề thế nhất vùng và đặt tên là Khánh Long tự. Chùa không chỉ thờ Phật mà còn có ban thờ Thánh. Bốn mùa xuân, hạ, thu, đông làm lễ cầu mùa, mong cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống no đủ, quốc thái dân an.
Di tích lịch sử
Chùa Khánh Long được kiến trúc theo thể thức chùa của trường phái Trúc Lâm Yên tử thời nhà Trần, bởi chùa do sư tăng chùa Dầu muốn xây dựng chùa Khánh Long để làm nơi hoằng dương Phật pháp theo tông chỉ của thiền phái Trúc Lâm.
Ngoài công trình chùa chính còn có nhà Tăng, nhà chế biến thuốc nam để chữa bệnh cứu người. Về phía tây nam chùa có đền Quan thánh, về phía đông nam có bệ Văn chỉ làng thờ Khổng Tử và các vị tiên hiền.
Sách Lịch sử Đảng bộ xã Hà Giang chép: “Chùa làng Mỹ Dương được gọi là Khánh Long tự, chùa thờ Phật Bà (chùa nằm cách làng 50m về phía tây nam). Chùa được tôn tạo lại thời Tự Đức năm thứ 8, có 5 gian. Cứ ba năm một lần làng tổ chức Lễ thượng. Làng lập đàn, giải hạn, mỗi gia đình trong làng làm một mâm cỗ dâng lên đấng tâm linh, đồng thời cũng là để thi cỗ giữa các gia đình trong làng với nhau. Nhà ai cỗ to, nhiều món được làng trao giải thưởng bằng lễ vật…”
Như vậy, chùa Khánh Long có lịch sử xây dựng từ thời Hậu Lê và đến thời Nguyễn (1856), thì được tôn tạo lại. Chùa được xây dựng bằng tường gạch, bộ khung bằng gỗ, mái ngoài lợp ngói mũi, bên trong liệt. Trong chùa có đầy đủ hệ thống tượng thờ, có các quyển sách kinh thánh bằng chữ Hán, có trống mõ, ngoài ra còn có các đồ dung vật dụng khác….
Chùa Khánh Long không chỉ là nơi thờ Phật mà còn là một trong những nơi cán bộ cách mạng lui tới hoạt động trong những năm trước và sau Cách mạng tháng Tám.
Sách Lịch sử Đảng Bộ huyện Hà Trung cho biết: “… tháng 2 năm 1942, đồng chí Nguyễn Văn Huệ – một chiến sĩ cộng sản từ nhà tù Buôn Ma Thuột đã trở về địa phương để tiếp tục hoạt động… Từ sau hội nghị, tổ chức Thanh niên ái quốc đã dần dần được mở rộng và đi vào hoạt động ở các làng như: Quan Chiêm, Đà Sơn, Trạng Sơn…”
Làng Trạng Sơn xưa và Mỹ Dương ngày nay, tọa lạc trên triền đồi, xung quanh là ao đầm và sông bao bọc, chỉ có một con đường độc đạo chạy qua, làng có nhiều cây cối um tùm, rậm rạm vì thế trong kháng chiến chống Pháp, chùa Khánh Long còn là nơi cất giấu vũ khí, một đơn vị kho bạc nhà nước đóng ở chùa và hoạt động được một thời gian thì bị bọn Việt gian chỉ điểm cho giặc, quân Pháp đã cho máy bay B26 bắn phá hai lần vào ngày 22/7/1951 và 11/3/1953.
Với những đóng góp của chùa Khánh Long đối với cách mạng nên vào ngày 18/3/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ký Quyết định số: 620/QĐ-UBND, tặng Bằng khen cho chùa là “Đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược”.
Những năm gần đây, do nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, xuất phát từ giáo lý “từ bi hỉ xả” của đạo Phật và cũng là một nét đẹp trong văn hóa của người Việt, để giáo dục đạo đức cho con cháu biết sống yêu thương và đùm bọc lẫn nhau, bà con nơi đây đã chung tay đóng góp công sức và tiền của xây dựng lại chùa để làm nơi thờ tự Phật thánh.
Kiến trúc
Ngày nay, đến thăm quan chùa Khánh Long theo thứ tự từ ngoài vào có các công trình: Sân vườn, Nhà Tam Bảo.
Sân vườn: Từ phía dưới cổng bước lên sân chùa qua các bậc thang được lát bằng đá lan giai xanh. Từ cổng đi vào chùa lát những phiến đá lan giai và chân tảng của chùa cũ. Sân chùa lát gạch bát đỏ.
Chùa: Là ngôi nhà được cấu trúc hình chữ Đinh gồm Tiền đường và Hậu cung.
Tiền đường: là ngôi nhà 3 gian, được cấu trúc bởi 2 vì khung bằng sắt gác chếnh lên tường long cốt và tường hậu, nhà xây theo kiểu tường hồi bít đốc; Tiền đường có kích thước chiều dài 11,5m; chiều dài gian 1 và gian 3 gian bằng nhau, mỗi gian dài 3,5m, gian giữa có kích thước lớn hơn và có kích thước là 4,5m; Chiều rộng lòng nhà 4,5m, nền nhà lát gạch hoa màu sáng; Nhà Tiền đường được trổ ba cửa ra vào tạo cho ngôi nhà sáng, thoáng mát và thuận tiện trong dịp cúng tế. Cửa sắt theo kiểu panô. Mái nhà được lợp bằng tấm lợp brô xi măng
Từ nhà Tiền đường vào Hậu cung để trống. Phần hậu cung được cấu trúc thành 1 gian với hai vì kèo bằng bê tông giả gỗ, có hai cây cột bê tông đỡ, phía trước gác lên tường hiên, phía sau gác lên tường hậu. Tường hồi cũng xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Mái bên trong đổ bê tông trượt, bên ngoài dán ngói.
Bài trí đồ thờ
– Tại nhà Hậu cung: Ban thờ được xây chất liệu gạch vữa và sắt thép, mặt ngoài ốp gạch hoa màu trắng. Ban thờ được bố trí thành 3 lớp thờ như sau:
Lớp bàn thờ cao nhất, là nơi đặt tượng Phật tổ Như Lai.
Lớp bàn thờ thứ 2, đặt ba pho tượng gồm có tượng A Di Đà, tượng Quan Âm Bồ tát và Đại Thế Chí Bồ tát.
Lớp bàn thứ ba, là nơi đặt tượng Chuẩn Đề, ngoài cùng là bát hương.
– Tại nhà Tiền đường: được bài trí hai bàn thờ tại hai gian thứ nhất và gian thứ 3.
Bàn thờ tại gian thứ nhất (tính từ trái qua phải), bàn thờ được xây bằng gạch vữa và sắt thép. Đây là nơi thờ hội đồng thánh Mẫu.
Bàn thờ gian thứ 3: cũng được xây bằng gạch vữa và sắt thép. Đây là nơi thờ Đức Ông.
Chùa Khánh Long là ngôi chùa có lịch sử trên 250 năm. Đây không chỉ là nơi thờ Phật, mà còn là nơi bốc thuốc cứu người và có nhiều đóng góp trong công cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Đây là một ngôi chùa mang nét đặc trưng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Tuy ngôi chùa xưa không còn, nhưng bà con nhân dân cũng đã có những đóng góp công sức và tiền của để tạo dựng nên nơi thờ tự Phật thánh, khôi phục lại những nét sinh hoạt tâm linh. Đó cũng là công đức đáng được ghi nhận.