Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Sét xưa kia thuộc thôn Giáp Lục, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì nay là thôn Giáp Lục, phường Tân Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chùa tọa lạc ở đầu ngõ 521 phố Trương Định, cách Hồ Gươm chừng 7km về phía Nam.
Thịnh Liệt là vùng đất cổ nằm sát kề kinh thành Thăng Long xa xưa có tên là Cổ Liệt, đến thế kỷ XV mang tên Thịnh Liệt, tên nôm là Kẻ Sét. Theo thời gian, Thịnh Liệt phát triển, quy mô có tới 9 giáp đặt tên từ Giáp Nhất đến Giáp Cửu. Sau Giáp Cửu tách thành làng riêng là Phương Liệt. Thịnh Liệt còn lại 8 giáp chia thành tám thôn dùng tên giáp làm tên thôn.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Thịnh Liệt trở thành tên gọi một phường của quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Đây là nơi ghi lại dấu vết của dòng sông Tương chạy vòng từ phía sau chùa Tương Mai tới đầm Sét, sông Kim Ngưu. Vua chúa các nhà Lý, Trần, Lê thường dùng thuyền đi trên các dòng sông này để du ngoạn cảnh đẹp ở phía Nam kinh thành. Biết được vị thế của vùng đất, Hồ Hán Thương đã dự định chọn nơi đây để dựng cung điện cho mình nhưng chưa thực hiện được thì nhà Hồ bị sụp đổ.
Vẻ đẹp này đã được nhắc đến trong tấm bia Trùng tu Đại Bi tự bi (Bia ghi việc trùng tu chùa Đại Bi) niên hiệu Đức Long 6 (1634) lưu tại chùa Sét: “… chùa Đại Bi là một nơi… cổ kính của xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, phía Nam hợp nhánh sông Nhuệ, như bày dải lụa trắng ngàn tằm, phía Bắc cuốn nước sông Tô, tự dải sóng xanh muôn khoảnh. Bên tả ấn màu xanh chín khúc đưa về, bên hữu chen màu trắng Thành Long xô lại. Ngoái trông chùa Phật, lập ở phường này, điện các nguy nga, tháp Tổ chót vót, hoa cỏ tốt tươi, sắc xanh ngăn ngắt là trúc chân như, màu vàng rừng rực là hoa bát nhã. Thật là trời thiện bậc nhất, phúc địa bậc nhất trong chốn Tùng Lâm…”[1]
Không chỉ nổi tiếng với cảnh quan nên thơ, Kẻ Sét Thịnh Liệt còn là vùng đất văn hiến có nhiều người đỗ đạt ở các thời. Nổi tiếng là dòng họ Bùi với Bùi Xương Trạch đỗ tiến sĩ năm 1478 triều vua Lê Thánh Tông. Trong Lịch triều Hiến chương loại chí, Phan Huy Chú chép: “Ông trải thăng đến Thượng thư bộ Binh, giữ việc sáu bộ, kiêm chức Đô ngự sử; coi việc tòa Kinh diên, Tế tửu Quốc tử giám, tước Quảng Văn hầu… ông gặp thời ra làm quan, tự mang trách nhiệm kinh tế bang thế. Thanh liêm, kiệm ước, không mưu tính của riêng một tý nào; bổng lộc được bao nhiêu đều chia hết cho họ hàng, làng mạc. Lòng tốt… được người đương thời tôn phục.”[2] Ngoài ra có thể kể đến: Bùi Vịnh đỗ Bảng nhãn năm 1532, Bùi Huy Bích, Bùi Bỉnh Uyên, Bùi Bỉnh Trực… Trong Kiến Văn tiểu lục, Lê Quý Đôn đã ca ngợi dòng họ Bùi ở Thịnh Liệt: “Con cháu sinh sôi nảy nở, công danh sự nghiệp rạng rỡ vẻ vang. Từ thời Lê Trung Hưng bầy tôi kế thế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà hiển quý nhất, chỉ có họ Bùi mà thôi.”[3]
Chùa Sét có tên chữ là Đại Bi tự, Phật Am tự hay Cổ Am tự. Chùa Sét là tên gọi chung vì trước đây, khu vực này vốn có hai ngôi chùa: chùa Đại Bi đã bị phá hủy năm 1972 chỉ còn lại chùa Cổ Am. Một số đồ thờ tại chùa Đại Bi được rước lên chùa Cổ Am. Ngôi chùa được nhân dân của tám làng giáp xây dựng để thờ Phật Pháp Vân trong hệ thống tứ pháp – một tín ngưỡng của người Việt cổ phụng thờ những vị nữ thần bảo hộ cho sự thuần hóa của tự nhiên để cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Đó là sự tích về vị cao tăng Khâu Đà La (người Ấn) bước qua người cô gái trẻ Man Nương, khiến bà gián tiếp thụ thai, sinh ra một cô con gái rồi mang trả lại cho sư. Sư Khâu Đà La khấn xin với cây rừng thì có một cây dung mở thân gỗ ra, sư đặt đứa bé vào trong, cây khép lại. Trước khi từ biệt, sư đưa cho Man Nương một cây trượng, dặn khi nào hạn hán thì cắm xuống đất. Đến năm đại hạn, Man Nương cắm gậy xuống đất thì có nước chảy ra, dân được nhờ ơn. Một năm mưa to gió lớn, cây dung thụ bị đổ trôi theo sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì mắc lại ven bờ. Bao nhiêu người kéo lên cũng không được. Sĩ Nhiếp (hoặc Man Nương) đến làm lễ cho kéo cây dung lên bờ và chia làm bốn phần, tạc thành bốn pho tượng Phật. Khi cắt bên trong cây thì chỗ đặt đứa bé ngày xưa đã trở thành một khối đá. Bốn pho tượng gọi là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện chia cho bốn chùa để thờ, cầu mưa rất linh ứng. Người ta gọi Man Nương là “Phật Mẫu” (mẹ của Phật). Ngày Man Nương mất, dân địa phương lấy làm ngày lễ, hằng năm cúng tế, mở hội.
Trong Tứ pháp, Pháp Vân là chị cả nên được coi trọng hơn cả và được thờ cúng ở nhiều nơi. Qua khảo sát, văn bản sớm nhất hiện nay chúng ta còn lưu giữ được có nhắc tới Pháp Vân là tư liệu Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ngữ lục, bước đầu được Giáo sư Lê Mạnh Thát xác định có niên đại thời Trần[4], chép rằng: “Thời nhà Tấn kinh du lĩnh ngoại đến đất Giao Châu thành Luy Lâu vua sĩ. Thuở ấy có bụt Pháp Vân, người đất Giao Châu lấy làm báu thứ nhất phương ấy vậy.”[5]
Bên cạnh đó, vị Phật này cũng được nhắc lại một lần nữa trong Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp một danh sĩ được xác định là sống vào cuối thời Trần đề cập khá chi tiết trong “Man Nương truyện”. Truyền thuyết này lý giải cho việc ra đời của hệ thống Tứ Pháp. Tiếp đó đến đầu thời Lê, Phật Pháp Vân “được nhiều lần thỉnh về Hà Nội để cầu đảo và tôn thờ.”[6]
Về mặt chính sử, lần đầu tiên Phật Pháp Vân xuất hiện dưới thời vua Lý Nhân Tông năm 1073, được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư:“Quý Sửu, Thái Ninh năm thứ 2 [1073]. Bấy giờ mưa dầm, rước Phật Pháp Vân về kinh để cầu tạnh.”[7] Bên cạnh đó, trong cuốn Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, bộ chính sử dưới thời Nguyễn cũng ghi: “Năm Quý Sửu (1073). Lý Nhân Tông hoàng đế, năm Thái Ninh thứ 2. (Tống, năm Hi Ninh thứ 6). Mưa dầm mãi không tạnh (không rõ tháng nào). Nhà vua sai làm lễ ở chùa Pháp Vân”[8]. Tuy nhiên, khi căn cứ vào Đại Việt sử lược thì sự việc này được ghi vào năm Nhâm Tý 1072 “mùa thu tháng 7 (…) rước Phật Pháp Vân về kinh sư cầu tạnh”[9].
Chùa Dâu (Hà Bắc nay là Bắc Ninh) và chùa Đậu (Hà Tây nay là Hà Nội) có liên quan chặt chẽ với nhau nên thường có lễ rước bà Dâu về chùa Đậu. Một lần trên đường rước, về đến cây đa đầu làng Giáp Lục thì gặp mưa và bị sét đánh nên nơi đây được gọi là vùng Sét và làng Sét gắn với Giáp Lục nhiều hơn cả. Nơi đặt tượng bà Dâu lúc tránh mưa, sau này người ta dựng một am thờ nhỏ gọi là chùa Am hay chùa Sét, trong Am đặt tượng Pháp Vân. Trong khuôn viên đất chùa bên cạnh ngôi phật Am sau nhân dân dựng một ngôi chùa khác là Đại Bi và gọi chung là chùa Sét.
Lược sử
Theo truyền thuyết dân gian, chùa được khởi dựng từ thời Lý nhưng chúng tôi chưa tìm được nguồn tư liệu thành văn chứng minh được điều này. Tấm bia niên hiệu Đức Long 6 (1634) – di vật cổ nhất tại chùa hiện nay đã đề cập ở trên cho biết quy mô và sự bề thề của chùa ở thời điểm đó và bà cung tần vợ vua, được ban họ Lê, tên húy là Ngọc Trân người làng Thịnh Liệt đã bỏ tiền mua gạch ngói Côn Sơn và đứng lên kêu gọi quyên góp chi phí cho việc trùng tu, tôn tạo chùa. Giờ Hợi ngày 27/6 năm Canh Ngọ niên hiệu Đức Long 2 (1630) hai người thợ mộc giỏi tên là Ly Lâu và Công Châu tính giấy mực giấy kích thước. Tối ngày 16/10 làm xong. Thờ Phật có điện, đốt hương có Từ đường, đắp rồng nền chiêu đề, nâng cao bát nhã, Tiền đường và Hậu cung, hai dãy hành lang tả hữu cùng các nơi thờ cúng ở phòng sau. Đến ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (1631) dựng cột gác thượng lương, gác chuông, lâu đài to tát rõ ràng, chọc trời chót vót như chim bay, tên vút… Như vậy, từ năm 1634 chùa đã trải qua một đợt trùng tu lớn nên chắc hẳn di tích đã được khởi dựng vào trước đó ở đầu thời Lê hoặc thời Trần và cũng có thể sớm hơn.
Ngôi chùa cổ nổi tiếng trong vùng trước đây có khuôn viên rộng lớn. Tư liệu văn bia và ảnh chụp từ thời Pháp cho thấy: chùa Sét gồm: “Chùa Đại Bi, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà dải vũ, gác chuông, vườn Tháp mộ, am thờ Tứ Pháp, sân vườn rộng… Quá trình tồn tại, ngôi chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu vào các năm: Đức Long 6 (1634), Đức Long 7 (niên hiệu Dương Hòa) (1635), Gia Long 7 (1808), Bảo Đại 2 (1927) qua các tấm bia hiện còn. Kháng chiến chống Pháp, chùa bị phá hủy. Nhân dân trong vùng đã chung sức sửa lại ngôi Cổ Am hoàn thành vào cuối năm 53 đầu năm 54.”[10] Tháng 12/1972, Mỹ rải bom B52 dọc khu phố Trương Định, chùa Đại Bi bị phá hủy hoàn toàn, ngũ quan chỉ còn phần tầng dưới và ba cột đồng trụ; chùa Cổ Am bị rạn nứt.
Kiến trúc
Di tích hiện tọa lạc trên gò đất cao. Tổng thể các công trình bao gồm: chùa chính quay hướng Tây, nhà Tổ bên phải kề sát hồi trái Tiền đường, nhà khách và khu phụ phía sau chùa, sân vườn… Tam bảo gồm ba gian Tiền đường, hai gian Thượng điện. Chùa xây gạch, mái lợp tôn giả ngói với hai tầng mái. Chính giữa bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nhật, hai đầu kìm hướng vào giữa uốn cong. Ngăn cách hai tầng mái là phần cô diêm làm bằng vôi vữa. Kiến trúc bên trong chùa, không gian được chia thành 3 phần bằng nhau gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Tất cả các vì kèo được làm theo kiểu bê tông trụ trốn. Tiền đường phân làm ba gian gồm hai bộ vì kèo, Thiêu hương gồm hai gian một bộ vì, Hậu cung gồm một gian hai dĩ gồm hai bộ vì.
Hệ thống Tượng
Phần bài trí tượng thờ tại chùa Sét có nhiều điểm khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống thường thấy. Đây chính là nét riêng của ngôi chùa làng Sét. Trong Thượng điện, nơi cao nhất là ban thờ Pháp Vân đặt trong khám kính vuông. Tượng đặt trong tư thế ngồi thiền trên bệ gỗ cao, khuôn mặt trái xoan, tai to chảy dài giữa thót lại. Hai tay giơ cao, một tay cầm tràng hạt, tay kia cầm quạt mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Ban thờ dưới là tượng Quan âm. Hai bên Hậu cung, bên phải đặt tượng Quan âm Thiên thủ, bên trái là tượng Quan âm Tống tử. Thiêu hương và Tiền đường là nơi thờ Phật với các lớp tượng:
– Lớp thứ nhất: Phật Tam thế,
– Lớp thứ hai: Di đà tam tôn
– Lớp thứ 4: Nam Tào – Di Lặc – Bắc Đẩu. Hai pho tượng Nam Tào và Bắc Đẩu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII.
– Lớp thứ tư là tượng Thích ca đứng
– Lớp thứ 5 là tòa cửu long Thích ca sơ sinh.
Nhà Tiền đường đặt ban thờ Đức ông bên trái và Đức thánh hiền bên phải.
Những biến động trong lịch sử đặc biệt là hai cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ đã hủy hoại rất nhiều những di sản văn hóa có giá trị. Chùa Sét cũng vậy, diện mạo ngôi chùa hôm nay dưới tác động của quá trình đô thị hóa đã làm biến dạng và thay đổi rất nhiều bởi sự cư trú của các hộ dân trong khuôn viên di tích. Chùa không còn nguyên vẹn kiến trúc cảnh quan đồ sộ trước đây. Tuy nhiên, giá trị nổi bật nhất của ngôi chùa là sự khẳng định lịch sử và bề dày truyền thống của vùng đất kẻ Sét nổi danh kinh kỳ.
Di vật
Khối di văn tại chùa hiện còn 9 tấm bia đá bao gồm: 2 bia niên hiệu Đức Long 6 (1634), Đức Long 7 (1635); 2 bia niên hiệu Chính Hòa 11 (1690), Chính Hòa 12 (1691), Gia Long 7 (1808), Bảo Đại 2 (1927) và một số bia đã mờ không rõ niên đại… Đặc biệt, hệ thống tượng pháp tiêu biểu là 4 pho mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX cùng 8 đạo sắc phong cho bà Pháp Vân.
Với những giá trị tiêu biểu hiện còn, chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa Quốc gia.
Chú thích
[1] TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2010, tr. 176 – 177.
[2] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo Dục, 2005, tr. 299.
[3] TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Sđd, tr. 177.
[4] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, Nxb Đồng Nai, 2023, tr. 139.
[5] Nguyễn Quang Hồng, Di văn chùa Dâu, Nxb Khoa học Xã hội, 1997, tr. 35.
[6] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 140.
[7] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, 1993, tr. 109.
[8] Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển III, Viện sử học dịch, Nxb Giáo Dục, 1998, tr. 139.
[9] Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 140.
[10] TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Sđd, tr. 180.
Tài liệu tham khảo
- Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Giáo Dục.
- Nguyễn Quang Hồng (1997), Di văn chùa Dâu, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, quyển III, Viện sử học dịch, Nxb Giáo Dục.
- Lê Mạnh Thát (2023), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, Nxb Đồng Nai.
- TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), (2010), Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa – Thông tin.