Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Bà Tề tên chữ là Bà Tề tự còn thường gọi là chùa Hiệp Thuận tọa lạc ở thôn Hiệp Thuận, xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 25km về phía Tây Bắc.
Chùa Bà Tề hiện nay là sự kết hợp lại từ hai chùa là chùa Đại Từ Bi và chùa Bà Tề hợp làm một tạo nên ngôi chùa có số lượng Phật rất lớn và là trung tâm tín ngưỡng của dân làng Hiệp Thuận.
Lịch sử
Xưa kia ở làng Hiệp Thuận ở ven đê sông Đáy, làng có hai ngôi chùa là chùa Bà Tề và chùa Đại Từ Bi, do làng chịu sự ảnh hưởng ngập lụt, chùa Đại Từ Bi đã di chuyển nhập vào làm một với chùa Bà Tề.
Theo dân gian truyền lại thì chùa Bà Tề đã có từ lâu đời, không rõ được chính xác vào thời gian nào của lịch sử. Tuy nhiên xét theo những di vật, cổ vật còn lưu giữ được tại chùa, dựa vào phong cách trang trí nghệ thuật trên các di vật đó ta có thể dự đoán chùa được xây dựng vào thời Hậu Lê (khoảng thế kỷ XVII).
Chùa đã được trùng tu nhiều lần ở các giai đoạn khác nhau, những dấu tích kiến trúc hiện còn cho thấy lần trùng tu lớn cuối cùng vào khoảng thời Nguyễn.
Kiến trúc
Khuôn viên chùa có diện tích không lớn, kiến trúc chùa làm theo nội công ngoại quốc, có tường bao xung quanh ngôi chùa, bao gồm cổng chùa, hai dãy nhà phụ hai bên, dãy Tam bảo và toà thiêu hương ở giữa.
Qua cổng chùa là sân dẫn đến khu Tam Bảo, đây là dãy nhà năm gian phía trước và năm gian phía sau, hai gian được nối với nhau bằng toà Thiêu Hương, còn ở hai bên là hai dãy hành lang.
Kiến trúc Tam bảo hình chữ Công (工), năm gian phía trước là nhà Tiền đường, năm gian phía sau là Hậu cung, ở giữa là Thiêu Hương, cả 3 nếp nhà đều được làm theo lối thượng rường hạ kẻ, phía trước nhà Tiền đường có hệ thống cửa bức bàn chạy suốt bốn gian nối với các cột cái, có thể thấy đây là lối kiến trúc của thời Nguyễn.
Ở hai gian giáp với Tiền đường có đặt hai tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác, bên trong dãy Thiêu Hương có đặt các tượng thờ trên bệ từ thấp đến cao: Thích Ca Sơ Sinh, hai bên là dãy tượng Thập Điện Diêm Vương, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu.
Nối tiếp vào tận giữa gian Hậu cung là các tượng đặt từ dưới lên trên như sau: hàng thứ nhất là tượng Tứ Thiên Vương, hàng thứ hai là tượng Ngọc Hoàng và Tứ Vị Bồ Tát, hàng thứ ba là Quan Âm Chuẩn Đề hai và Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền, hàng thứ tư là Quan Âm Bồ Tát, hàng thứ 5 là tượng A Di Đà, hai bên là Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, hàng thứ 6 là tượng A Di Đà có kích thước nhỏ hơn và hai tượng Di Lặc và Tuyết Sơn.
Ngoài ra ở gian hồi bên trái là bộ tượng Đức Ông ở giữa hai tượng Già Lam và Chân Tế. Còn bộ tượng Đức Ông khác đặt áp sát vào sườn bên trái của Phật điện chính.
Gian bên trái giáp gian giữa có ba bộ tượng: ở giữa là Quan Âm Tống Tử, bên trái là bà Ma Da ôm cây sung, bên phải là Phật nhập Niết Bàn (nhưng lại nằm chống tay trái xuống đất nâng đầu nên rất cao).
Gian bên phải giáp gian giữa là động Quan Âm có pho tượng Quan Âm toạ sơn khá to và rất đẹp ở giữa, xung quanh nhiều tượng nhỏ ít giá trị nghệ thuật. Phần sau sẽ trở lại pho Quan Âm này.
Hai dãy hành lang hai bên, phía giáp tường hậu là hai dây tượng, gồm hai bộ: Giám Trai ở hành lang bên trái và Thổ Địa ở đầu hành lang bên phải.
Qua đó ta thấy rằng sự hợp hai chùa làm một khiến cho chùa Bà Tề hiện nay chứa số lượng tượng rất lớn và trùng nhau, do vậy ngôi chùa đã có Phật điện chính và đã xây thêm Phật điện phụ để bày các pho tượng của chùa Đại Bi mang sang. Hầu hết các bức tượng này đều có niên đại thời Nguyễn.
Đặc biệt trong các pho tượng, nổi bật là bức tượng Quan Âm Toạ Sơn ngồi trên một tảng đá ở cửa động, chân trái duỗi thẳng xuống, còn chân phải co lên chống trên tảng đá, hai tay để trên đùi. Mặt tượng trái xoan, thân mình dong dòng, ngực đeo bộ dây an lạc, mình mặc áo dài các nếp chày xuôi, pho tượng này rcó nét rất gần gũi có phong cách thuộc nửa đầu thế kỷ XVII.
Bộ tượng Tam Thế của chùa Bà Tề có chiều cao bằng người thực, trong tư thế ngồi kiết già, chân trái đè lên chân phải, dáng hơi ưỡn ngực, mặc áo cà sa, chi tiết ngực nổi núm ngực rất chân thực, vạt áo ngực có chữ Vạn.
Cả 3 pho tượng này chỉ khác nhau ở tư thế tay, bề ngang của tượng to, mặt ngắn và bầu, mũi to, cánh mũi bè, gò má nhô cao. Dựa vào khối tạo hình, và những hoa văn trang trí bệ tượng ta đoán rằng bộ tượng Tam Thế có niên đại vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII.
Bên trong Tam bảo còn có treo một quả chuông đồng “Bà Tề Tự Chung” (Chuông chùa Bà Tề) đúc năm Gia Long 12 (1813). Quai treo chuông là hai con rồng, vồng lên cao 42 cm, thân chuông cao 80 cm, đường kính miệng là 58 cm. Miệng chuông có vành cánh sen hai lớp, trong mỗi cánh lại được trang trí hoa văn, thân chuông có bốn núm đánh và tám ô, trong đó các ô đều trang trí hình ảnh bướm bay, bốn ô trên trạm dày đặc chữ, bốn ô dưới để trơn.
Gian bên trái Tiền đường có treo một khánh đồng được đúc thời Minh Mạng, cao 112cm, rộng 140cm, hình dáng giống lưỡi búa. Ở hai mặt của khánh đồng đều được khắc chữ, một mặt khắc chữ Bà Tề, một mặt khắc chữ Tự Khánh, mỗi mặt lại có một núm đánh, trên núm khắc hình chim phượng đang bay và hình mặt trời.
Di vật
Hiện vật còn lưu giữ được ở chùa Bà Tề hiện nay là sản phẩm của thời Nguyễn, gồm chuông Gia Long, khánh đồng Minh Mạng, bộ tranh Thập điện Diêm Vương vẽ trên ván gỗ và rất nhiều tượng đất, đặc biệt chùa giữ được bộ tượng Tam Thế, tượng Quan Âm Toạ Sơn thế kỷ XVII.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc sắc về lịch sử, văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật, chùa Bà Tề đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hoá ngày 2 tháng 3 năm 1990.
Tài liệu tham khảo
- Chùa Bà Tề, PGS. Chu Quang Trứ, Tạp chí nghiên cứu phật học.