Bà Chúa Kho

Thông tin cơ bản

Bà Chúa Kho là ai?

Trong tâm thức dân gian hiện nay hay ở tầng hữu thức của dân chúng, Bà Chúa Kho là một nhân vật lịch sử. Các tư liệu về bà khiến các nhà nghiên cứu phải kêu ca vì sự mâu thuẫn. Song điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi Bà vốn không phải nhân vật lịch sử mà là một nhân vật huyền thoại được lịch sử hoá. 

Do vậy, mỗi địa phương, mỗi thời kỳ lịch sử tùy theo nhu cầu và cảm quan của dân chúng mà bà được lịch sử hoá theo các kiểu khác nhau. Ai đó cần linh thiêng thì gắn bà với dòng dõi hoàng tộc, vợ vua; còn ai đó lại gắn bà với hình ảnh cô gái xinh đẹp, nết na thảo hiền. Tuy nhiên, cái chung nhất của mọi kiểu lịch sử hoá, Bà Chúa Kho là người có công với dân với nước mà mọi người đều ngưỡng mộ.

Sự tích Bà Chúa Kho được lưu truyền phổ biến nhất

Để nói về nguồn gốc Bà Chúa Kho thì phải dựa vào câu chuyện bắt nguồn từ ngôi đền Cổ Mễ (Bắc Ninh) vì nơi đây có tiếng tăm lâu đời, được người trong lĩnh vực buôn bán truyền tai nhau có Bà Chúa Kho linh ứng nhất. Theo sách sử, Bà có xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm. Là người con gái nhan sắc tuyệt trần, mặc dù xuất thân từ một vùng nông thôn nghèo, gia đình khó khăn nhưng bà rất đa trí, đa tài, cầm kỳ thi họa đều giỏi. Bà lọt vào mắt xanh của vua Lý và trở thành vợ của vua.

Sau khi trở thành vợ của vua, bà thấy đất đai quê mình rất rộng mà không ai khai hoang, sản xuất nên bà đã xin nhà vua được trở về làng để chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang, tăng gia sản xuất. Từ đó, làng Quả Cảm trở nên đông đúc hơn, bà con sản xuất hăng say, lương thức dồi dào, đầy kho.

Ngày 12 tháng Giêng, năm Đinh Tỵ, quân Tống kéo quân sang xâm lược nước ta. Cuộc kháng chiến chống Tống diễn ra rất gay go, ác liệt. Vua Lý Thường Kiệt đã lựa chọn làng Cổ Mễ, Cầu Gạo, núi Kho là căn cứ để đặt kho tích trữ lương thực, phục vụ cho cuộc kháng chiến. Ngoài ra, đây cũng là những vị trí chiến lược, kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long.

Nhận biết được tầm quan trọng của vị trí chiến lược này, Bà Chúa Kho đã tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực và trông nom kho tàng quốc gia phục vụ cho cuộc chiến tại sông Như Nguyệt. Tương truyền, bà còn cho người đào đường hầm tại ngọn núi Kho, cửa hầm nằm ở phía sông Như Nguyệt rất khó phát hiện. Đường hầm có kết cấu hình mái vòm, chỗ cao nhất của đường hầm lên đến 2m. Đây được coi là bến cảng tập kết, điều chuyển binh lực, vật lực đi các nơi và cũng là điểm quân sự lợi hại.

Một hôm nọ, trong lúc đang phát lương cứu đỗi dân làng, bà không may bị địch sát hại. Cảm kích trước tấm lòng của bà, vua Trần đã phong bà làm Phúc thần phường Võ Trại, cho dân xây dựng đền thờ cúng tại vị trí kho lương thực cũ, gọi với danh xưng là Bà Chúa Kho.

Một số ý kiến khác

Trong Đạo Mẫu Việt Nam có ghi: “Bà có tên tuổi (Lý An Quốc, Trần Thị Ngọc …?); có nguồn gốc xuất thân (em gái thứ 6 của vua Lý Thánh Tông, vợ vua Lý, con vua Bà, tức Hà Giang công chúa được sai xuống trông coi Cổ Mễ, con gia đình làm nghề gốm, quê ở Quả Cảm, nhà nghèo), có công tích (chiêu dân lập ấp, khấn ruộng, giữ kho lúa cho triều đình trong cuộc kháng chiến chống Tống trên sông Như Nguyệt …?)”.(1)

Những truyền thuyết về Bà Chúa Kho cũng ít nhiều liên quan tới tục thờ Mẹ Lúa nguyên thuỷ. Theo các cụ kể lại, Bà Chúa Kho là  thông nữ xinh đẹp, có tài, sinh sống ở vùng ven sông Cầu.

“Ban đầu, vùng đất này là vùng bãi ngập nước, lầy trũng, cư dân chưa biết trồng cấy gì, Cô thôn nữ ấy rắc trấu tới đâu thì lúa mọc tới đó. Từ đó lúa thóc cứ ùn ùn như núi, mọi người phải xây kho để trữ lương thực và tôn vinh cô gái dạy dân trồng lúa ấy là Bà Chúa Kho, Bà Lẫm.”(2)

Về phương diện tâm linh, Bà Chúa Kho vốn là vị thần có phần khiêm nhường trong lớp áo của một “nhân vật lịch sử”, “Thần Mẫu“, song từ sau thập kỷ 80, nhất là đầu thập kỷ 90, hiện tượng thờ cúng Bà Chúa Kho bỗng nổi lên như một của tín ngưỡng dân gian nước ta sau thời kỳ đổi mới. Từ đó, hình tượng Bà Chúa Kho trở thành người ban phát tài lộc theo kiểu “vay trả” để đầu năm vay “tiền” Bà về làm ăn hay xin “lộc rơi”, “lộc vãi” và cuối năm lễ tạ, “trả” tiền vay của Bà.

Địa điểm thờ tự

  • Đền Bà Chúa Kho ( Bắc Ninh)
  • Đền Bà Chúa Kho (Bắc Giang)
  • Đình Giảng Võ (Hà Nội)
  • Trung cơ linh từ (Bắc Ninh)

Ngày khánh tiệc của Bà Chúa Kho được tổ chức thường niên vào ngày 20 tháng 7 âm lịch.

Chú thích

  1. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, quyển 1, tr.176
  2. Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam, quyển 1, tr.177.

Tham khảo


  1. Fanpage Hầu đồng: https://www.facebook.com/haudongviet/posts/1164846150363557/
  2. Thế giới di sản: http://thegioidisan.vn/vi/ba-chua-kho-nguoi-la-ai.html
  3. Wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%A0_Ch%C3%BAa_Kho_(H%C3%A0_N%E1%BB%99i)
Chấm điểm
Chia sẻ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)