Khánh Ninh tự/Hậu phật bi kí
慶寧寺/後佛碑記
Kí hiệu: 02480/2481
Thác bản bia chùa Khánh Ninh thôn Thị xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn慈山府東岸縣扶寧社市村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 62 x 95 cm, gồm 17 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 600 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 24 (1763).
Người soạn: Nguyễn Hữu Điền 阮有田; học vị: Nho sinh.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Nguyên văn chữ Hán
後 佛 碑 記
慈山府東岸縣扶寧社市村官員鄉老社村長中男全村上下等,睠惟本村諸善人素有良心,累期修理寺亭,曾出家錢 dĩ 資用役本村,並順保爲後佛。遞年七月十六日祭祀如儀。所有姓名併田數開列于后:
一修理本寺出錢三十貫
一壬午年修龍轎鉦鼓架,出每名古錢三貫
一阮氏號慈善同滿一高
向上照田每高用炊十斗,青焦二十果,芙留拾口,酒一差,依祭日早時遞就本碑行禮。祭畢。。。
官員二具,培拜二具,當年一具,僧寺一具,存上下共飲食。
景興二十四年三月穀旦,儒生阮有實記。
官員鄉老社村長中男共記。
Phiên âm Hán Việt
Khánh Ninh tự Hậu Phật bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã Thị thôn quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, trung nam đồng thôn thượng hạ đẳng.
Quyền duy bản thôn chư thiện nhân tố hữu lương tâm, lũy kì tu lí tự, đình, tăng xuất gia tiền dĩ tư dụng dịch. Bản thôn tính thuận bảo vi Hậu Phật. Đệ niên thất nguyệt thập lục nhật, tế tự như nghi. Sở hữu tính danh tính điền sở khai liệt vu hậu:
– Tu lí bản tự xuất tiền tam thập quan…
– Nhâm Ngọ niên tu long kiệu, chỉnh, cổ giá xuất mỗi danh cổ tiền tam quan.
– Hương thượng chiêu điền, mỗi cao dụng suy thập đấu, thanh tiêu nhị thập quả, phù lưu thập khẩu, tửu nhất chai y tế nhật tảo thời đệ tựu bản bi hành lễ. Tế tất, quan viên nhị cự, bồi bái nhị cự, đương niên nhất cự, tăng tự nhất cự, tôn thượng hạ cộng ẩm thực.
Cảnh Hưng nhị thập tứ niên tam nguyệt cốc nhật, Nho sinh Nguyễn Hữu Thực kí.
Quan viên hương lão xã thôn trưởng, trung nam cộng kí.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Phật chùa Khánh Ninh
Quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, trung nam và toàn dân thôn Thị xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn cùng dựng bia.
Kính thay! Các bậc thiện nhân ở thôn ta đều có lòng nhân từ, từng nhiều lần giúp dân thôn tu sửa đình, chùa. Lại bỏ tiền cho thôn dùng vào việc công. Dân làng đồng lòng tôn bầu tất cả các vị thiện nhân đó làm Hậu Phật. Vào ngày 16 tháng 7 hằng năm, tế lễ như nghi thức. Tất cả họ tên ghi ra sau đây:
– Sửa chùa làng tiền 30 quan.
– Năm Nhâm Ngọ (1762) sửa kiệu rồng, gác trống, gác chiêng, mỗi người 3 quan tiền cổ:
Nguyễn thị, hiệu Từ Thiện, có ruộng gửi vào chùa 1 sào ở xứ Đồng Mãn. Nguyễn công tự Phúc Liêm, ruộng 1 sào. Nguyễn thị, hiệu Diệu Châm, ruộng 1 sào ở xứ Đường Kiến và 6 thước xứ Áng Chiêm để mua giấy tiền 1 nghìn tờ. Nguyễn Công, tự Phúc Ân 1 sào xứ Quang Bột. Nguyễn thị, hiệu Từ Đàm 1 sào 5 thước xứ Đường Khôi. Nguyễn thị, hiệu Từ Biển 12 thước. Nguyễn thị, hiệu Diệu Lương, 1 sào ở xứ Đầu Ninh. Nguyễn thị, hiệu Diệu Trì, 1 sào xứ Bồ Đề. Nguyễn thị, hiệu Thục Nghĩa, ruộng 1 sào xứ Bãi Càn. Nguyễn thị, hiệu Thuần Chính, ruộng 2 sào và 10 thước ruộng oản. Nguyễn thị, hiệu Diệu Tân, ruộng 10 thước xứ Thổ Cần. Nguyễn thị, hiệu Thục Tiết, ruộng 1 sào. Nguyễn thị hiệu Diệu Lịch, ruộng 1 sào.
– Năm Tân Sửu (1721) sửa đình làng, cúng 9 quan tiền cổ gồm Nguyễn công, tự Trung Hoà và Nguyễn thị, hiệu Viên Tiết: cúng thêm 2 sào làm ruộng Hậu và nửa sào xứ Lộc Ninh để mua giấy tiền 1 nghìn tờ, 4 thước ở xứ Lỗi để làm oản cúng.
– Năm Ất Mão (1735) làm nhà đài vũ chùa, cúng 12 quan tiền cổ gồm: Nguyễn công, tự Phúc Long, ruộng 1 sào xứ Đầu Ninh. Nguyễn thị, hiệu Diệu Huy ruộng 1 sào 3 thước ở xứ Đầu Ninh. Nguyễn công, tự Phúc Xuân, ruộng 1 sào xứ Quang Bột. Ngô thị, hiệu Diệu Lộc, ruộng 1 sào ở xứ Vệ Tích. Nguyễn thị, hiệu Diệu Dung, ruộng 1 sào ở xứ Cây Quách. Nguyễn thị, hiệu Thục Toàn, ruộng 1 sào ở xứ Bãi Càn. Nguyễn công, tự Pháp Vô, ruộng 14 thước ở xứ Đường Khôi dùng để mua giấy tiền 2 nghìn tờ. Nguyễn công, tự Trung Thiện, ruộng 14 thước xứ Đường Khôi. Nguyễn công, tự Minh Định, ruộng 1 sào ở xứ Lộc Tích. Nguyễn thị, hiệu Trinh Độ, ruộng 1 sào ở xứ Lộc Tích và nửa sào ruộng oản xứ Đồng Trinh. Nguyễn thị, hiệu Thiện Từ. Nguyễn Văn Chử, ruộng 1 sào 3 thước ở xứ Thì Độc. Nguyễn thị, hiệu Diệu Khuông, ruộng 1 sào 4 thước ở xứ Lộc Khôi, dùng mua giấy tiền 300 tờ. Nguyễn Quý thị, hiệu Xuân Mĩ, ruộng 1 sào 3 thước xứ Vệ Ninh, trong đó trích lại 3 thước để mua giấy tiền 300 tờ.
Trở lên, chiếu mỗi sào ruộng cày cấy phải nộp 10 đấu gạo nếp nấu xôi, chuối tiêu 20 quả, cau trầu 10 miếng, rượu 1 chai. Ngày lễ, dâng cỗ bàn trước bia, tế lễ như nghi thức. Lễ xong, chia cho quan viên 2 mâm, bồi bái 2 mâm, đương cai 1 mâm, tăng chùa 1 mâm, còn lại chia đều tất cả những ai có mặt ở đó cùng thụ lộc.
Nguyễn Phúc Hiển trước ngày đã dựng toà đài vũ chùa, trụ trì chùa, lại biếu cho chùa 2 mảnh ruộng.
Nguyễn Hữu Kiên cúng vào chùa một mảnh ruộng làm ruộng Phật, làm lễ cúng dâng ngày sóc vọng. Nếu ai chiếm làm ruộng tư thì có Phật chứng giám.
Ngày lành tháng 3 năm Cảnh Hưng 24 (1763). Nho sinh Nguyễn Hữu Thực kí. Quan viên hương lão, xã thôn trưởng, trung nam cùng kí.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 213-216