Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại
後神碑記流傳萬代
Kí hiệu: 2471/2472
Thác bản bia xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn 東岸縣扶寧社, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 73 x 117 cm, gồm 41 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Bảo Thái thứ 8 (1727).
Người soạn: Trần Xuân Yến 陳春宴; quê quán: huyện Thanh Lâm, Hải Dương; học vị: Tiến sĩ khoa Tân Sửu; chức vị: Giám sát ngự sử.
Người viết chữ: Nguyễn Viết Sĩ 阮曰仕; học vị: Thư toán khoa Tân Mùi; chức vị: Thị nội Thư tả, Hộ phiên, Phó sở sứ.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Thơ văn.

Nguyên văn chữ Hán

後 神 碑 記

扶寧社後神碑記

蓋聞有功德於民者,民必追思而祀之,此天理之必然,人情之當然,亙古今之所同然也。

眷茲直元殿少卿貴祥男阮公挺,乃東岸扶寧鄉之善人也。生佳子侍右中宮侍候騎後並牽馬充之等隊內差侍內書寫戶番侍近司禮監右監承算祥候。豐姿穎異,器量寬洪。綽約青年,趨蹌紫禁。任使多能,稱旨當官。克慎攸司,遵皆精詳。奪先籌于書算之選,出納明辨;策高名於言語之科,領水艘而周旅。整齊典鏢騎而衛浹。蕃碩每寫忠誠以許國,克敦孝順以事親。其尤可稱述者,澤偏粉榆,陰施桑梓。一邑之內,無不感其恩,慕其德,咸有尊親之願焉。適因燕會,相與語曰:吾邑何幸,有尊候之生於斯,長於斯。其顯榮恩寵,既足達吾邑之光覆冒;拊懞又足爲吾邑之助。心乎敬矣,心乎愛矣,何以貺之?何以酬之?與其歌誦祝詠,權悅於一時,孰若黍稷馨香,奉承於萬世!將欲敬其所尊,愛其所親,庶答恩情於萬一可乎?眾口齊聲,一唱百和。尊候知人心之有孚也,遂加許青錢四百貫,肥田四畝四高,以共成其事。相與立約,共奉親父者英上仕直元殿少卿貴祥男阮公挺字福田爲本亭後神。遞年祈福與諸節預迨,百歲後送尊祝拜,一一依券文內。始于今年,以及千萬斯年,遵承不易也。嗚呼!積善逢善,天道當然。以德報德,人心自有。後之生斯邑爲斯民者,足斯亭,目斯碑,口斯文,心前人之心德,尊候之德,祭祀之必莊,必敬,儀禮之無假無非。如此則尊候貺卿之恩,吾民仁厚之俗,與之而並傳矣。約成徵文監碑,以事其傳云。銘曰:

至誠可久
明德惟馨
扶寧勝地
阮族名鄉
佳郎跨寵
要路楊庭
國忠家孝
日白天青
八田種福
三味傳經
愛人以德
樂善有誠
群心脅協
祀事孔明
一碑語錄
萬古鄉情

時皇黎朝保泰萬萬年之八歲在丁未季秋日造

賜辛丑科進仕山西監察御史海陽青林人陳春宴撰 辛卯科試中侍內算侍內書寫戶番副所使阮日仕寫

流傳萬代

一肥田四畝四高分爲各節奉事。。。。

Phiên âm Hán Việt

Hậu thần bi kí

Phù Ninh xã Hậu Thần bi kí

Cái văn hữu công đức ư dân giả, dân tất truy tư nhi tự chi. Thử thiên lí chi bản nhiên, nhân tình chi đương nhiên. Cắng cổ kim chi, sở đồng nhiên dã. Quyến tư, Chân Nguyên điện Thiếu khanh Quý Tường nam Nguyễn Công Đĩnh, nãi Đông Ngạn Phù Ninh hương chi thiện nhân dã. Sinh giai tử Thị hữu trung cung thị hầu kí hậu tịnh khiển mã sung chi đằng đội, nội sai Thị nội thư tả Hộ phiên, thị cận ty lễ giám Hữu giám thừa, Toán Tường hầu. Phong tư đĩnh dị, khí lượng khoan hồng. Trác ước thanh niên, xu thương tử cấm; nhiệm sử đa năng, xứng chỉ đương quan. Khắc thận du ty tuần giai tinh tường, đoạt tiên trù vu thư toán chi tuyển. Xuất nạp minh biện sách cao danh ư ngôn ngữ chi khoa. Lĩnh thủy sư nhi chu lữ chỉnh tề, điển phiếu kị nhi vệ lai phiên thạc. Mỗi tả trung thành dĩ hứa quốc, khắc đôn hiếu thuận dĩ sự thân. Kỳ viu khả xứng. Thuật giả trạch biến phần du, ấm thi tang tử. Nhất ấp chi nội, vô bất cảm kỳ ân, mộ kỳ đức. Hàm hữu tôn thân chi nguyện yên. Thích nhân yến hội, tương dữ ngữ viết: Ngô ấp hà hạnh hữu tôn hầu chi sinh ư tư, trưởng ư tư. Kỳ hiển vinh ân sủng, kí túc vi ngô ấp chi quang; phú mạo biền mông, hựu túc vi ngô ấp chi trợ. Tâm hồ kính hĩ, tâm hồ ái hĩ. Hà dĩ chúc chi, hà dĩ thù chi. Dữ kỳ ca tụng chúc vịnh, hoan duyệt ư nhất thời, thục nhược thử tắc hình hương, phụng thừa ư vạn thế. Tương dục kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, thứ đáp ân tình ư vạn nhất khả hồ? Chúng khẩu tề thanh, nhất xướng bách hoạ. Tôn hầu tri nhân tâm chi hữu phù dã, toại gia hứa thanh tiền tứ bách quan, phì điền tứ mẫu tứ cao, dĩ cộng thành kỳ sự. Tương dữ lập ước, cộng phụng thân phụ Kỳ Anh thượng sĩ Chân Nguyên điện Thiếu khanh Quý Tường nam Nguyễn Công Đĩnh tự Phúc Điền vi bản đình Hậu Thần. Đệ niên kỳ phúc dữ chư tiết, dự đãi bách tuế hậu tổng tôn chúc bái, nhất nhất y khoản văn nội. Thủy vu kim niên dĩ cập thiên vạn tư niên, tuân thừa bất dịch dã. Ô! Tích thiện phùng thiện, thiên đạo đương nhiên; dĩ đức báo đức, nhân tâm tự hữu hậu chi sinh. Tư ấp vi tư dân giả túc tư đình, mục tư bi, khẩu tư văn; tâm tiền nhân chi tâm, đức tôn hầu chi đức tế tự chi. Tất tráng, tất kính; nghi lễ chi vô giả, vô phi. Như thử tắc tôn hầu điệu tuất chi ân, ngô dân nhân hậu chi tục. Dữ chi nhi tính truyền hĩ. Ước thành trưng văn, giám bi dĩ sự kỳ truyền vân.

Minh viết: Chí thành khả cửu Minh đức duy hinh Phù Ninh thắng địa Nguyễn tộc danh hương Giai lang khoả sủng Yếu lộ dương đình Quốc trung gia hiếu Nhật bạch thiên thanh Bát điền chủng phúc Tam muội truyền kinh Ái nhân dĩ đức Lạc thiện hữu thành Quần tâm tư hiệp Tự sự khổng minh Nhất bi ngũ lục Vạn cổ hương tình.

Thời. Hoàng triều Bảo Thái vạn vạn niên chi bát, tuế tại Đinh Mùi quý thu cốc nhật tạo.

Tứ Tân Sửu khoa tiến sĩ Sơn Tây đạo Giám sát ngự sử Hải Dương Thanh Lâm nhân Trần Xuân Yến soạn. Tân Mão khoa thí trúng Thị nội toán Thị nội thư tả Hộ phiên Phó sở sứ Nguyễn Viết Sĩ tả.

Lưu truyền vạn đại

– Phì điền tứ mẫu tứ cao phân vi các tiết phụng sự…

Dịch nghĩa Tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Bia Hậu Thần xã Phù Ninh.

Thường nghe: người có công đức với dân, thì dân tất tưởng nhớ và thờ tự. Đó là gốc của đạo trời, là lẽ đương nhiên của lòng người, là điều giống nhau suốt từ xưa tới nay vậy. Nay có ngài Thiếu khanh ở điện Chân Nguyên là Quý Tường nam Nguyễn Công Đĩnh. Ông là bậc thiện nhân của xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn ta vậy, sinh được một người con trai quý làm ở các đội Thị hầu kí hậu và khiển mã sung chi của Thị hữu trung cung; rồi làm chức Nội sai thị nội Thư tả Hộ phiên, Thị cận ty lễ giám Hữu giám thừa, tước Toán Tường hầu. Chàng trai có phong tư khác lạ, khí chất bao dung. Khi trai trẻ đã rất năng nổ, công vụ mẫn cán, xứng danh chức quan vua ban. Thận trọng trông coi chức phận, suy tính tinh tường. Thi đỗ khoa thư toán, có tài biện giải, nổi tiếng về khoa ăn nói. Coi quân thủy thì tàu thuyền tề chỉnh, trông kị mã thì ngựa xe thêm đông. Trung thành đền ơn nước, hiếu thuận thờ mẹ cha. Thật đáng được ghi lại. Ân trạch ban khắp quê hương, ơn đức rợp che thôn xóm. Bởi thế dân cả vùng, không ai không đội ơn ông, ngưỡng mộ công đức của ông và thủy đều có ước nguyện được tôn thờ thân phụ của ông. Nhân lúc hội họp, dân ấp bàn với nhau rằng: ấp ta may có tôn hầu sinh trưởng ở đây. Sự hiển vinh, ân sủng của ngài đáng làm gương cho cả ấp. Ngài đã bỏ biết bao tiền của, ruộng vườn để giúp cho dân ấp ta. Ai cũng đều kính trọng ngài, nhưng biết lấy gì đền đáp lại đây? Nếu chỉ ca tụng, chúc vịnh, vui vẻ trong một thời, đâu bằng hương thơm, lễ hậu, tôn thờ mãi về sau. Để tỏ lòng tôn kính này, cần nên tôn thờ thân phụ của ngài, ngõ hầu báo đáp muôn một. Tất cả đều đồng thanh tán thưởng, một người xướng trăm người họa theo. Ngài biết lòng người có hậu, nên đã hứa cho tiền xanh 400 quan, ruộng tốt 4 mẫu 4 sào để lo công việc. Dân ấp lập khoán ước cùng tôn thờ thân phụ ngài là cụ Kỳ Anh thượng sĩ, Chân Nguyên điện Thiếu khanh Quý Tường nam Nguyễn Công Đĩnh, tự Phúc Điền làm Hậu Thần của đình ta. Hàng năm vào lễ cầu phúc và các tuần tiết khác, đều kính biếu ngài và sau khi trăm tuổi thì rước bài vị ngài lên phụ thờ như trong khoán ước. Từ nay về sau, tôn thờ mãi mãi, không được thay đổi. Ôi ! người tích thiện ắt gặp điều thiện, đó là lẽ trời hiển nhiên vậy. Việc lấy đức báo đức, vốn lòng người có sẵn. Sau này, những ai sinh ra ở ấp này, làm người dân ấp này dừng chân ở đình, mắt nhìn bia đá, miệng đọc bài văn này, hẳn sẽ biết tấm lòng của người xưa, tôn kính công đức tôn hầu mà chu tất phụng thờ, phải kính, phải trọng, nghi lễ không được tuỳ tiện. Như thế thì ơn cứu giúp của tôn hầu và phong tục nhân hậu của dân ấp ta mãi mãi lưu truyền cùng bia đá. Lời ước đã thành, rước người khắc bia truyền lại sau. Bài minh rằng:

Lòng thành truyền mãi Đức sáng thêm hương Phù Ninh danh thắng Tộc Nguyễn rạng truyền Có con thành đạt Quan lộ nổi danh Trung thần, hiếu tử Sáng tựa trời xanh Ruộng thiền gieo phúc U muội truyền kinh Yêu người bằng đức Tích thiện lòng thành Hết thảy tôn kính Thờ tựa thần minh Bia đây ghi lại Muôn thuở ân tình.

Ngày lành tháng cuối thu năm Đinh Mùi, niên hiệu Bảo Thái thứ 2 triều Lê (1727) dựng bia. Trần Xuân Yến1, Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1721), chức Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, người huyện Thanh Lâm đạo Hải Dương soạn văn bia. Nguyễn Viết Sĩ trúng thí khoa Tân Mão (1711), chức Phó sở sứ, Thị nội tuyển Thị nội thư tả Hộ phiên viết chữ.

Lưu truyền vạn đại

Ruộng tốt 4 mẫu 4 sào phân cho các tiết phụng thờ hương hoá, nghênh tiếp cúng lễ. Tế lễ như nghi thức, định thành lệ, kê ra sau đây.

Thần vị Hậu Thần phụng thờ ở bên phải Thần vị Đại vương trong miếu thôn Thượng. Bốn mùa hương hoả phụ thờ bên Thành hoàng.

Lễ nhập tịch, cầu phúc, quan viên, tư văn, hương lão xã thôn trưởng hai thôn Thượng, Trung cùng ăn mặc tề chỉnh, tế lễ ở miếu thôn Thượng. Lễ xong, trung nam vào khiêng kiệu và cờ tán, chiêng trống rước về đình làng. Ngày hôm sau làm lễ, cỗ bàn như lệ tế lễ Thần. Ngày mãn tiệc, lại rước bài vị về miếu của thôn, an trí theo nghi lễ. Vì thôn Hạ có đình riêng, nên nhân đó xin tôn thờ Hậu Thần ở bên phải miếu thôn, bốn mùa thờ cúng như nghi thức. Những ngày này, được tổ chức xướng ca, tế lễ. Mãn tiệc, lại rước về miếu an bài như cũ.

Ruộng hương hoả 3 sào giao cho đương niên 3 thôn cày cấy, sắm lễ vật dâng các ngày cúng giỗ.

Ruộng mua giấy tiền và áo mũ hàng mã gồm 1 sào. Hàng năm vào ngày giỗ, mua 1 mâm giấy tiền, 1 bó hương giá 2 mạch 10 văn tiền. Tiết tháng chạp cũng sắm các thứ như vậy. Ngày 30 tháng 12 cuối năm, mua áo quần bằng giấy 1 bộ giá 2 mạch, mũ 1 chiếc giá 1 mạch dâng y phục lên bài vị Hậu Thần ở miếu.

Ruộng 4 sào lo lễ vật ngày sóc, vọng. Mỗi ngày gạo xôi 2 đấu, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong giá 20 văn, dâng lên bài vị Hậu Thần miếu. Lễ xong, xã thôn trưởng cùng thụ lộc.

Ruộng giỗ 1 mẫu 8 sào. Ngày giỗ làm 18 mâm cỗ, mỗi mâm gạo nếp 10 đấu, gà 1 con giá 2 mạch, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong giá 30 văn, dâng lên đình làng, bày đặt như nghi thức. Lấy ra 3 mâm dâng miếu 3 thôn cúng lễ Đại vương để cầu chúc Hậu Thần. Dâng xong, về bản đình tế lễ. Chọn quan viên tư văn trong xã 1 người ăn mặc tề chỉnh làm chủ tế, đứng trước bồ bái để tỏ sự tôn nghiêm. Lễ xong, biếu bản tộc 1 cỗ, tư văn 1 cỗ, chủ tế 1 cỗ (bị đục 18 chữ), bồi ái 1 cỗ. Còn lại 14 cỗ thì quan viên, tư văn, hương lão xã thôn trưởng có mặt cùng thụ lộc.

Lạp điền 1 mẫu 8 sào, hàng năm vào tháng chạp dâng lễ ở đình tế lễ như nghi thức. Lễ xong chia lộc như lệ giỗ.

Nguyễn Thọ Trường – Tổng Thái giám, Nguyễn Công Dược – Tả đề điểm, Nguyễn Nho Thụy – Nội giám, Nguyễn Công Nhã – Nội giám, Nguyễn Thọ Trạch – Nội giám, Nguyễn Minh Du – Phò mã, Nguyễn Thọ Vực – Thông thừa, Nguyễn Khắc Trì – Đồng tri phủ, Thạch Duy Minh – Tự thừa, Nguyễn Bá Thái – Huyện uý, Đào Quốc Thuận – Huyện thừa, Nguyễn Đức Dụ – Huyện thừa, Nguyễn Văn Uyên – Huyện thừa, Nguyễn Khắc Nghiêm – Huyện thừa, Đào Quốc Định – Ty vụ, Nguyễn Lĩnh Đạt – Huấn đạo, Nguyễn Thế – Huấn đạo, Nguyễn Nho Cử – Ám hiệu lễ tiết, Nguyễn Thọ Cơ – Thiêm tri Lại phiên, Nguyễn Công Đoan – Tri bạ, Nguyễn Thọ Trạch – Tri bạ, Nguyễn Công Trọng – Tri bạ, Nguyễn Thọ Vinh – Tri bạ, Thạch Duy Nghiễm – Phó sứ, Ngô Quang Trạc – Phó sở, Nguyễn Văn Toàn – Thủ trâm, Thạch Danh Tiêu – Tri sự, Ngô Đức Giai – Tri sự, Nguyễn Văn Lan – Nho sinh trúng thức, Nguyễn Trọng Dung – Nho sinh trúng thức, Nguyễn Khắc Nguyện – Giám sinh, Nguyễn Thọ Thuyên – Cai hợp, Nguyễn Tuấn Đức – Thư tả, Nguyễn Quốc Du – Đô lại, Đào Quốc Đĩnh – Nho sinh, Nguyễn Công Ức – Nho sinh, Nguyễn Đản Hoán – Nho sinh, Nguyễn Bá Kiều – Quan viên tử, Thạch Quang Vận – Xã chính, Nguyễn Danh Phương – Quan viên tử, Nguyễn Đức Trăn – Quan viên tử, Nguyễn Bỉnh Luân – Xã sử, Nguyễn Công Nghị – Xã tư, Nguyễn Đức Thiệu – Hương lão.

Chú thích

  1. Trần Xuân Yến, người xã An Lạc huyện Thanh Lâm (nay thuộc huyện Nam Sách, Hải Dương), đỗ Tiến sĩ khoa Tân Sửu niên hiệu Bảo Thái 2 (1721), lúc ông 33 tuổi, làm quan đến chức Tế tửu.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 311 – 321

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)