Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí/Lưu truyền vạn đại
后神碑記/留傳萬代
Kí hiệu: 2487/2488
Thác bản bia đình Phù Ninh (nay không còn), xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại Thạch Sàng xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 157 x 94 cm, gồm 39 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 100 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Đề .
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 17 (1856).
Người soạn: không ghi.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Gia phả, lai lịch dòng họ.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Thơ văn.

Nguyên văn chữ Hán

后 神 碑 記

嘗聞澤及於人人必追思而祀之,譬猶投桃報李之必然。

謄惟東岸扶寧前昭毅將軍侍內監司禮監總太監提督神武四衛軍務事少保識壽侯加贈識郡公阮相公天南望族,京北華宗。前敕加封真字廣成德量后城隍阮相公,尊公之高祖也。

前都督府右都督詠郡公后城隍阮相公,尊公之曾祖也;前嘉行大夫宣光處贊治承宣使司承政使贈壽侯后城隍阮相公,尊公之顯考也。

家傳仁厚,播引其前世;計簪冠,承翼其後。爰暨尊公,以時碩德,爲國勳臣。禁中居候舌之班,歷幾要於吏事、禮司、工權、兵政;閫外任馳驅之責,秉越旄而東征西討北劫南之駿烈。既賁光於國,鴻恩加久,麗於鄉。擧鄉德之萬口同聲,胥相語曰:我鄉尊侯管我方民,而能護民之勞,解夏天之酷暑;照民如子,扇春日之和風。厚澤深仁,我等所當親之如父母,而敬之如神明。乃相與會於亭中,聯名記字,共尊保尊公爲后神。尊公更惠賜青蚨錢壹百貫,得以舒當日兵火凶荒之迫;廣置肥田貳畝一高,有以為來時忌臘黍稷之供。其有孚惠德,真可以交接於神明矣。第多故之餘,碑址未建,相以其事語於余,余告之曰:

神格思不可度,思尊公之父子孫積其慶者壘七世;尊公之粉榆里開蒙其惠者幾壹百年。使神之噲之,必終和且平,樂與之共享春秋四時之報矣。爰歷敍其事,命管城子記之,使銓于后,以壽其傳云。

銘曰:

烈烈太陽
皎皎太陰
斯功斯德
日昭月臨
烘烘彼黃
青青彼蒼
斯功斯德
地久天長

皇朝景興萬萬年之十七歲在丙子孟秋穀日

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Thường văn trạch cập ư nhân, nhân tất truy tư, nhi tự chi. Tỉ do đầu đào báo lí chi tất nhiên. Quyền duy, Đông Ngạn Phù Ninh, tiền Chiêu nghị tướng quân, Thị nội giám ty Lễ giám Tổng thái giám, Đề đốc thần vũ tứ vệ quân vụ sứ Thiếu bảo, Thúc Thọ hầu, gia tặng Thúc Quận công Nguyễn tướng công. Thiên nam vọng tộc, Kinh Bắc hoa tông. Tiên sắc gia phong Chân vũ quảng thánh đức lượng Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công, tôn công chi cao tổ dã. Tiền Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công, tôn công chi tằng tổ dã; nhi tiền Gia hạnh đại phu Tuyên Quang xứ Tán trị thừa tuyên sứ ty Thừa chính sứ, tặng Thọ hầu Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công, tôn công chi hiển khảo dã.

Gia truyền nhân hậu, bá dân kì tiên, thế kế trâm quan thừa đức kì hậu. Viên kì tôn công dĩ thời thạc đức, vi quốc huân thần, cảm trung cựu hậu thiết chi ban. Lịch cơ yếu ư lại, sự Lễ ty công quyền bình chính khổn, ngoại nhậm trì khu chi trách, binh việt mao nhi đồng chính, tây thảo, bắc khước nam chi tuấn liệt, kì phấn quang ư quốc, hồng ân gia cửu lệ ư hương, dữ hương đức chi. Vạn khẩu đồng thanh tư tướng ngữ viết: ngã hương tôn hậu quán ngã phương dân, nhi năng hộ dân chi lao giải hạ thiên chi hạo thử, chiếu dân như tử, phiến xuân nhật chi hoà phong, hậu trạch thâm nhân. Ngã đẳng sở đương thân chi như phụ mẫu, nhi kính chi như thần minh. Nãi tương dữ hội ư đình trung, liên danh kì tự, cộng tôn bảo tôn công vi Hậu Thần. Tôn công cảnh huệ từ thanh phù tiền nhất bách quan, đắc dĩ thử đường nhật bình hoà, hưng hoàng chi bách. Quảng trí phi điền nhị mẫu nhất cao hữu, dĩ vi lai thời kì lạp. Thử tắc chi cúng kì hữu phù huệ đức chân khả dĩ giao tiếp ư Thần minh hĩ. Đệ dã cổ chi dư, bi chí vị kiến. Tường dĩ kì sự ngữ dư. Dư cáo chi viết:

Thần chi cách tư bất khả độ tư. Tôn công chi phụ tử tổ tôn tích kì khánh giả, lũy lục thất thế. Tôn công chi phận du lí khai mông kì huệ giả cơ nhất bách niên, sử Thần chi tán chi, tất chung hoà thả bình, lạc dữ chi cộng hưởng xuân thu tứ thời chi báo hĩ. Viên lịch thuật kì sự, mệnh quán thành tử kì chi, sử thuyên vu thạch dĩ thọ kì truyền văn. Minh viết:

Liệt liệt thái dương
Hiệu hiệu thái âm
Tư công tư đức
Nhật chiếu nguyệt lâm
Huỳnh huỳnh bỉ hoàng
Thanh thanh bỉ thương
Tư công tư đức
Địa cửu thiên trường.

Thời, Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi thập thất, tuế tại Bính Tý, mạnh thu cốc nhật.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Thường nghe: ân huệ cho người, người tất ghi ơn và phụng thờ; cũng như việc cho đào trả mận là lẽ đương nhiên vậy.

Nay ở xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn có ngài Chiêu nghị tướng quân, Thị nội giám ty Lễ giám, Tổng Thái giám Đề đốc thần vũ tứ vệ quân sự vụ, Thiếu bảo Thúc Thọ hầu, gia tặng là Thúc Quận công Nguyễn tướng công. Gia tộc ông là một vọng tộc ở đất nam, là dòng họ lớn xứ Kinh Bắc. Cụ cao tổ vốn được phong là Chân vũ quảng thánh đức lượng Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công. Cụ tằng tổ được phong là Đô đốc phủ Hữu Đô đốc Vịnh Quận công Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công. Hiển khảo (cha) được phong là Gia hạnh đại phu, Thừa chánh sứ ở Thừa chánh sứ ty Tuyên Quang, tước Tăng Thọ hầu, Hậu Thánh hoàng Nguyễn tướng công. Thật là nếp nhà nhân hậu từ xưa, dòng dõi trâm anh kế nối. Nay đến Ngài, Ngài cũng đã có nhiều công lao với nước, nên trở thành một bậc đại thần của triều đình, giữ việc hầu nơi cung cấm, đặc trách công việc cơ mật. Bên trong thì đảm nhận mọi quyền hành trong lễ giám, bên ngoài thì rong ruổi nơi biên ải, đánh đông dẹp bắc, giữ trời nam. Công với nước sáng ngời, ơn với làng tốt đẹp. Dân ấp nhớ sâu ân đức, muôn người một ý cùng bàn với nhau rằng: “Ngài cai quản dân ấp ta, lại biết cứu khổ cho dân ấp ta, ân đức Ngài như trời nóng bức ngày hè; nuôi dân ta như con cái, công ơn tựa thổi lên gió xuân mát lành. Tình sâu nhân hậu, dân ta phải tôn kính Ngài như cha mẹ, phụng thờ ngài như thần thiêng”. Do đó dân ấp đã họp ở đình chung, liên danh kí tên tôn bầu Ngài làm Hậu Thần. Ngài lại ban cho dân 100 quan tiền để lo lúc đói kém vì cơn binh hoả, cùng 2 mẫu 1 sào ruộng tốt để dùng vào việc cúng lễ về sau.

Ngài có lòng thành, lại có ân đức như vậy, thật xứng được hưởng cúng lễ với thần minh. Tuy nhiên, vì gặp buổi rối ren, chưa dựng được bia, nên mang chuyện đó nói với ta. Ta đáp: “Thần minh giáng phúc, chẳng thể lường được”. Cha con, ông cháu Ngài đã tích đức được 6, 7 đời rồi. Quê hương thôn xóm được đội ơn Ngài có tới ngót trăm năm vậy. Nếu thần biết được, tất sẽ tán đồng và để cho được yên lành, cùng vui hưởng lễ báo đáp, xuân thu bốn mùa. Bèn ghi lại sự việc, sai quan thành tử chép lại, đem khắc lên bia đá, lưu truyền dài lâu. Minh rằng:

Rực rỡ thái dương
Vằng vặc thái âm
Công dày, đức dày
Nhật nguyệt sáng soi
Đất lành thăm thẳm
Lồng lộng trời xanh
Công ơn lớn vậy
Tựa trời đất này.

Ngày lành tháng thu năm Bính Tý, niên hiệu Cảnh Hưng 17 (1756).

Lưu truyền vạn đại

Quan viên tư văn hương lão xã thôn trưởng, trung nam trên dưới của 3 thôn Thượng, Trung, Hạ xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn cùng ghi lại rằng: vào những năm trước, đã hội họp ở đình chung, liên danh kí tên tôn bầu vị cai quan trong xã là Thiếu bảo Thúc Quận công làm Hậu Thánh hoàng. Sau ngày trăm tuổi, vào lễ nhập tịch hằng năm, thì rước (bài vị) Ngài lên tế lễ, cùng các kì giỗ chạp, phải cúng lễ Ngài như cúng lễ Thần vậy. Nay lập bia, hết thảy số tiền xanh cùng số ruộng tốt ở các xứ và nghi thức cúng lễ các kì giỗ chạp kê ra sau đây:

Ban tiền cổ 100 quan.

Ruộng tế ở xứ Bãi Càn 1 mẫu 6 sào 11 thước.

Ruộng tại xứ Lỗi 1 sào 7 thước 5 tấc.

Ruộng tại xứ Cửa Đê 11 thước.

Ruộng ở xứ Thủy Độc 1 sào. Số ruộng trên tổng cộng là 2 mẫu, giao cho lo làm cỗ cúng lễ.

Ruộng tại xứ Đường Cốt 1 sào giao cho giáp đương cai lo mua áo mũ để hóa. Hằng năm vào ngày giỗ 20 tháng giêng, dâng xôi 13 cỗ, mỗi cỗ gạo nếp 10 đấu, gà 1 con giá tiền 2 mạch 30 văn, rượu 1 bình giá tiền 30 văn sử tiền, cau trầu 1 phong 10 miếng. Tất cả đều là lễ vật sạch sẽ, tươi ngon. Lễ xong, biếu trưởng quan bản tộc 1 cỗ, tư văn 1 cỗ, bồi bái 1 cỗ, còn 9 cỗ thì những người trong xã có mặt tại đó hưởng lộc.Hằng năm vào ngày lạp tiết, xôi 7 cỗ, mỗi cỗ gạo 10 đấu, gà, cau trầu, lễ nghi như ngày giỗ. Lễ xong, biếu trưởng quan bản tộc 1 cỗ, tư văn 1 cỗ, bồi bái 1 cỗ, còn 3 cỗ chia đều cho những người trong xã có mặt tại đó.

Các thửa ruộng và nghi thức cúng lễ định thành lệ khắc lên bia đá để lưu truyền mãi mãi.

Ngày 16 tháng 7 năm Cảnh Hưng 17 (1756), toàn xã trên dưới cùng kí.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 245 – 252.

Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)