Hậu thần bi kí
後神碑記
Kí hiệu: 2455/2456
Thác bản bia ba thôn Thượng, Trung, Hạ xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社上中下三村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 70 x 90 cm, gồm 48 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 1600 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Thành .
Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 15 (1719).
Người soạn: Nguyễn [Mậu Thịnh] 阮茂盛; quê quán: huyện Gia Lâm; học vị: Tiến sĩ khoa Tân Mùi; chức vị: Bồi tụng, Phó Đô ngự sử; tước Kế Vũ nam.
Người viết chữ: Nguyễn Công Khải 阮公愷; chức vị: Thị nội Thư tả.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Thơ văn.
Nguyên văn chữ Hán
後 神 碑 記
扶寧社上中下三村奉事後神碑記併銘
嘗謂百行莫先於孝,而孝莫大於尊親。榮膺鸂鶒誥顯受鴻名,此固尊親之至;而桑梓追思黍稷歆祀,亦尊親之一端。
睠茲南宮權公馬侍候擇馬中候右牽馬銳後等隊船僉知侍內書寫兵番侍近侍內監司禮監太監寧壽候人物魁梧,俊才超楚。自少時奉侍王府,於諸邸旦夕匪懈。左右弗離,僕御宣勞,奉使稱旨。典兵番而肅霜凝之政,署公馬而高雲錦之能。預共事於皇華全君之命,曾爲翼於青邸。盡己之忠,上人箇其精成;廷臣嘉其硬直。恩榮寵數,光顯門閭。己亥年仰荷皇仁推恩所生,特加封贈,恩至渥也。然且自謂五采之娛,既不能以養其志;三塗之樂,又不能以及其時。孝思之成,自不容已。欲爲其先爲百年香火計,故兄餘俸之八甘,不爲臺池歌舞之奉,而謀立爲後神奉獻先考,以盡其報本及始之義。此成天理之在人心,正君子與爲人善者也。本社三村官員旄倪胥相謂曰:昔公之先人素有賢德,人所推服;今公之貴顯,其所波及里閭者實多。可不思疇昔之德而酬當日之恩?因共推保顯考鄉老老饒者英上上仕贈顯恭大夫宣光處贊治丞政使司參議阮貴公字福壯爲後神,歲時從祀,永矢不忘。爰徵文以紀其實。惟夫人道以孝行爲端,里俗以仁厚爲美。今當思民德之厚以成人子之孝,財可盡也,而仁厚之心與天地相爲始終;田可變也,而仁厚之心與日月相爲悠久。石篆有時而苔漫,而此心之仁厚等山石而不移。傳曰:至誠無息,則久,久則徵,徵則悠遠。諸君子其勉之。於是乎書之爲之銘曰:
敬其所尊
愛其所親
慎終追遠
風俗同仁
投之以桃
報之以李
應聲隨形
古今一理
湣貫堆盈
蓄畬早好
事之如生
永言至孝
牲栓肥膚
冠帶威儀
祭之如在
萬古豐碑
時皇朝永盛十五年歲次在己亥孟夏月穀日
肆辛未科少俊光進慎祿大夫陪從御史臺副都御史繼武男嘉林阮甫撰侍內選侍內書寫兵番所使阮公凱承寫
一田共三畝久高一所棟枷處二高
一錢使錢肆百貫奉事祭祀例
一奉尊公後神位在上村祠廟大王位之右,四時香火奉事附食
一祈福田日上中二村官員斯文鄉老社村長上下等齊整衣帽致祭在上村祠廟,祭畢旗杖鉦鼓迎接就本亭如儀。
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi kí
Phù Ninh xã Thượng, Trung, Hạ tam thôn phụng sự Hậu Thần bi kí tính minh.
Thường vị: bách hạnh mạc tiên ư hiếu, nhi hiếu mạc đại ư tôn thân. Vinh ưng hạc cáo, hiển thụ hồng danh. Thử cổ tôn thân chi chí, nhi tang tử truy tư, thử tắc hâm tư, diệc tôn thân chi nhất đoan. Quyền tư Nam cung quyền công mã Thị hầu, trạch mã Trung hầu, hữu khiên mã Nhuệ hầu đẳng đội thuyền Thiêm tri, Thị nội Thư tả Binh phiên, Thị cận Thị nội giám ti lễ giám Thái giám, Ninh Thọ hầu. Nhân, vật khôi ngô, tuấn tài kiêu sở. Tự thiếu thời, phụng thị vương phủ ư tiệm để, dần tích phi giai, tả hữu phát li. Bộc ngự tuyên lao, phụng sử xứng chỉ, điển binh phiên nhi túc sương nghiêm chi chính, thụ công mã nhi cao vân cẩm chi năng. Dự cộng sự ư hoàng hoa, toàn quân chi mệnh; tằng vi dục ư thanh đế, tận kì chi trung. Thượng nhân cá kì tinh thành, đình thần gia kì ngạnh trực. Ân vinh sủng sở, quang hiển môn lư.
Kỉ Hợi niên ngưỡng hạ hoàng nhân, suy ân sở sinh, đặc gia phong tặng ân chi ốc dã. Nhiên thả tự vị ngũ thái chi ngu, kì bất năng di dưỡng kì chí. Tam đồ chi lạc, hựu bất năng di cập kì thời. Hiếu tử chi thành, tự bất dung kỉ. Dục vi kì tiên, vi bách niên hương hoả, kế cổ huynh dư bổng chi, bất cam bất vi đại trì ca vũ chi phụng, nhi mưu lập Hậu Thần, phụng quyết tiên khảo dĩ tận kì báo. Bản cập thủy chi nghĩa, thử thành thiên lí chi tại nhân tâm, chính quân tử dữ vi nhân thiện giả dã. Bản xã tam thôn quan viên, mao nghệ tư tương vị viết: tích công chi tiền nhân tố hữu hiền đức nhân sở suy phục. Kim công chi quý hiển kì sở ba, cập lí lư giả thực dã. Khả bất tư tri tích chi đức, nhi thù đương nhật chi ân. Nhân cộng suy bảo Hiển khảo, hương tảo, lão nhiêu Kỉ anh thượng thượng sĩ, tặng Hiển cung đại phu Tuyên Quang xứ Tán trị thừa chánh sứ ti Tham nghị Nguyễn Quý công, tự Phúc Tráng vi Hậu Thần. Tuế thời tòng tự vĩnh thì bất vong. Viên trưng văn dĩ kỉ kì thực. Duy phu nhân đạo dĩ hiếu hạnh vi đoan lí tục, dĩ nhân hậu vi mĩ. Kim đương tư dân đức chi hậu, dĩ thành nhân tử chi hiếu. Tài khả tận dã, nhi nhân hậu chi tâm, dữ thiên địa tương vi thuỷ chung. Điển khả biến dã, nhi nhân hậu chi tâm, dữ nhật nguyệt tương vi du cửu. Thạch triên hữu thờ, nhi thái mạn nhi thử tâm chi nhân hậu đẳng, sơn thạch nhi bất di truyền viết: chí thành vô ân, bất tức tắc cửu, cửu tắc trưng, trưng tắc du viễn. Chư quân tử kì miễn chi ư thị hồ? Thử chi vi chí, minh viết:
Kính kì sở tôn
Ái kì sở thân
Thận chung truy viễn
Phong tục đồng nhân
Đầu chi dĩ đào
Báo chi dĩ lí
Ứng thành tuỳ hình
Cổ kim nhất lí
Dân quan đối doanh
Tri dư tạo hạo
Sự chi như sinh
Vĩnh ngôn chi hiếu
Sinh toàn phi dụng
Quan đối uy nghi
Tế chi như tại
Vạn cổ phong bi.
Hoàng triều Vĩnh Thịnh thập ngũ niên tuế thứ tại Kỉ Hợi mạnh hạ nguyệt cốc nhật. Tứ Tân Mùi khoa Thiếu tuấn Quang tiến thần lộc đại phu Bồi tòng Ngự sử đài Phó Đô ngự sử, Kế Vũ nam, Gia Lâm Nguyễn phủ soạn. Thị nội toán Thị nội Thư tả Binh phiên Sở sử Nguyễn Công Khải thừa tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Thần
Bài kí và bài minh về việc phụng thờ Hậu Thần của ba thôn Thượng, Trung, Hạ của xã Phù Ninh.
Thường nghe: trăm đức hạnh, không gì hơn đạo hiếu; trong đạo hiếu đó thì không gì lớn bằng sự tôn quý người trên. Vinh ơn cáo hạc, hiển nhận danh hồng. Đó chính là sự tôn thờ sâu nặng nhất vậy. Việc tưởng nhớ tới cha mẹ1 nơi quê hương và sự sùng kính cúng lễ, cũng chỉ là muôn một của lòng tôn quý người trên mà thôi.
Kính thay! nay có vị Nam cung quyền công mã Thị hầu, trạch mã Trung hầu, hữu khiên mã Nhuệ hậu các đội thuyền, Thiêm tri Thị nội Thư tả Binh phiên Thị cận thị nội giám ti lễ giám Thái giám, Ninh Thọ hầu, là người khôi ngô tuấn tú hơn cả2. Từ lúc thiếu thời, phụng mệnh vào chầu nơi dinh thự của phủ vương, sớm hôm tận tụy, không lúc nào xa cách chúa, chầu hầu gắng sức. Vì thế được sắc chỉ coi giữ ở Binh phiên, lo việc chính sự; nắm quyền ở Công mã, trổ hết tài thao lược. Tham dự chính sự nơi màn trướng, dốc lòng phò tá, tận trung. Bề trên khen là chân thành, người dưới cho là trung thực. Ân sủng nhiều, rạng rỡ gia tộc. Vào năm Kỷ Hợi (1719) đội ơn lộc vua mà được gia phong ân lớn, nên được gọi là lộc mừng ngũ sắc. Vì thế lẽ nào không nuôi chí báo đáp, không giữ lấy cơ may mà thể hiện lòng thành hiếu đễ? Mong muốn tiên tổ của mình được ngàn năm thờ cúng, mà bàn xin tôn bầu Hậu Thần cho cha đẻ để hết lòng báo hiếu vậy. Lòng thành đó, lẽ trời lại ở lòng người, ở người quân tử biết làm việc thiện ấy. Nay quan viên, dân làng ba thôn trong xã cùng bàn nhau rằng: Xưa vị hiển khảo của ông vốn là người nhân đức, từng được mọi người khâm phục, nay con cái hiển danh, có nhiều ân huệ với xóm làng, lẽ nào ta không nghĩ đến cái đức trước ngày mà báo đền ân nghĩa bây giờ? Do vậy, đã tôn bầu cha ông là Hiển khảo hương lão, lão nhiêu Kỳ anh thượng thượng sĩ, tặng là Hiển cung đại phu Tuyên Quang xứ Tán trị thừa chánh sứ ti Tham nghị Nguyễn Quý cộng, tự là Phúc Tráng làm Hậu Thần. Năm tháng thờ cúng không lơi lỏng. Bèn xin bài văn để ghi lại sự thực. Còn ngài là người giữ trọn đạo hiếu, làm đẹp hơn phong tục xóm làng, lấy lòng nhân hậu để làm việc thiện. Tiền của có thể hết, nhưng lòng nhân hậu vẫn luôn còn lại mãi cùng trời đất; ruộng đất có thể thay đổi, nhưng lòng nhân hậu có thể sáng cùng ánh nhật nguyệt. Lời văn khắc lên đá có thể mờ phai, nhưng tấm lòng thành bền mãi cùng đá núi. Vì thế mà nói rằng: lòng thành thì bất tử, mà càng lưu truyền thì càng rạng rỡ. Người quân tử gắng theo điều đó. Cho nên ghi lại và làm bài minh rằng:
Kính người tôn kính
Yêu người tôn thân
Uống nước nhờ cội
Phong tục thêm nồng
Ban ân quả mận
Báo đáp quả đào
Ơn nào phúc ấy
Đạo lí xưa nay
Tiền quan ban cấp
Ruộng tốt cúng dâng
Thờ như lúc sống
Giữ lòng thơm hiếu
Vật phẩm dâng cúng
Thể thức uy nghi
Cúng như Thần tại
Muôn thuở bia đây
Ngày lành tháng mạnh hạ (tháng tư) năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 15 (1719). Vị họ Nguyễn3, Tiến sĩ khoá Tân Mùi (1591) chức Quang tiến thận lộc đại phu, Bồi tòng ngự sử đài Phó Đô ngự sử, tước Kê Vũ nam, người huyện Gia Lâm soạn văn bia. Nguyễn Công Khải, chức Thị nội toán thị nội Thư tả Binh phiên Sở sứ viết chữ.
Ruộng 3 mẫu 9 sào: 2 sào ở xứ Cầu Trê cúng hương hoả. 2 sào xứ Đường Cạn cúng hương hoả. Xứ Nậu 1 mảnh 3 sào, 1 mảnh 1 sào rưỡi. Xứ Thủy Độc 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi và 1 mảnh 1 sào làm ruộng mua giấy tiền, giá 5 mạch tiền sử. Xứ Bàn Mộc 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi. Xứ Lỗi 1 sào rưỡi. Xứ Đồng Xa 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào, 1 mảnh 1 sào, 1 mảnh 1 sào. Xứ Lỗi 1 mảnh 2 sào, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 2 sào, 1 mảnh 2 sào. Xứ Mả Chợ 1 mảnh 1 sào rưỡi.
Tiền 400 quan sử tiền.
Sự lệ thờ cúng:
Thờ tôn công Hậu Thần tại miếu thôn Thượng, bài vị đặt bên phải bài vị Đại vương. Bốn mùa đèn nhang thờ cúng.
Vào dịp lễ cầu phúc, 2 thôn Thượng và Trung gồm các vị quan viên, tư văn, hương lão, xã thôn trưởng, ăn mặc tề chỉnh, cúng lễ tại miếu thôn Thượng. Lễ xong, cờ trống đón rước về đình cúng lễ như nghi thức. Còn thôn Hạ vì có đình riêng, nên đến tế lễ tại từ đường. Lễ xong, nghênh rước ra đình như nghi lễ của hai thôn trên.
Hàng năm vào ngày giỗ, mỗi thôn sắm xôi 6 mâm, mỗi mâm 6 đấu gạo, 1 con gà giá 2 mạch sử tiền; 1 chai rượu giá 30 văn sử tiền, 1 phong cau trầu 10 miếng, 1 mâm giấy tiền giá 5 mạch tiền sử. Lễ vật dâng lên bản đình tế lễ. Lễ xong, biếu bản tộc 1 cỗ, tư văn 1 cỗ, bồ bái 1 cỗ, còn lại mỗi thôn 5 cỗ chia đều cho các vị quan viên, hương lão, xã thôn trưởng trên dưới có mặt ở đó cùng thụ lộc tại đình trung, coi đó làm lệ Hậu Thần.
Vào tiết chạp, cỗ bàn y như lệ giỗ. 6 cỗ dâng lên chùa, cúng xong tăng sư chùa thụ lộc.
Sau đây là các vị trong xã kí bầu Hậu Thần:
Nguyễn Khắc Trì – Thủ hợp Đồng Tri phủ, Nguyễn Đức Cơ – Suy quan Cẩn Thọ bá, Nguyễn Bỉnh Hành – Tri huyện, Thạch Duy Minh – Tri huyện, Đào Quốc Thuận – Huyện thừa, Nguyễn Văn Uyên – Huyện thừa, Nguyễn Đức Tôn – Huyện thừa, Nguyễn Công Giai – Đồng Tri châu, Thạch Công Trọng – Phó sở sứ, Thạch Công Giai – Phó sở sứ, Nguyễn Đức Dụ – Phó sở sứ, Nguyễn Đức Thuần – Hoàng tín đại phu, Đào Quốc Cách – Nho sinh trúng thức, Tạ Tiến Lệnh, Tạ Tiến Pháp, Nguyễn Nho Cử – Giám sinh, Nguyễn Hữu Duy – Giám sinh, Nguyễn Công Luận – Nội giám Toán lộc bá, Nguyễn Công Lạc – Nội giám, Nguyễn Như Đoan – Nội giám, Nguyễn Đức Nhuận – Nội giám, Nguyễn Công Ức – Nho sinh, Thạch Quang Vận – Quan viên tử, Thạch Công Dung – Quan viên tử, Nguyễn Đức Thành – Quan viên tử, Nguyễn Hữu Điểm, Nguyễn Công Đĩnh, Nguyễn Đức Thiều, Nguyễn Hữu Đạo, Hoàng Công Nhậm, Nguyễn Phỉ Tài, Nguyễn Văn Sáu, Nguyễn Văn Trạch, Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Như Lưu, Nguyễn Danh Hiển, Thạch Công Lược, Nguyễn Đắc Vinh, Nguyễn Kim Tương, Ngô Đức Thận, Nguyễn Đức Mưu, Nguyễn Đức Cô, Nguyễn Như Thập, Nguyễn Danh Thuần, Thạch Nhã Thuật, Nguyễn Bỉnh Luân, Nguyễn Thụy, Nguyễn Đức Hiệu, Nguyễn Công Khuê, Đào Tiến Công, Nguyễn Công Thọ, Nguyễn Công Nhĩ, Trần Công Diệu, Tạ Tiến Phác, Nguyễn Như Mậu, Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Như Giai, Thạch Công Luận, Nguyễn Lạc Hân, Ngô Đức Tín, Nguyễn Đình Phú, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Hữu Lộc, Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Khắc Huệ, Nguyễn Khắc Thiệu – Quan viên tử, Nguyễn Khắc Trạch – Quan viên tử, Nguyễn Đức Lộc – Xã trưởng, Nguyễn Hữu Diên, Nguyễn Công Cơ, Nguyễn Đức Kiên, Nguyễn Đình Khôi, Ngô Bá Cơ, Đào Quốc Tán, Nguyễn Đức Minh, Lê Thọ Vinh, Vũ Văn Đạo, Ngô Tất Đắc, Nguyễn Văn Hanh.
Chú thích
-
Nguyên văn là chữ “tang tử” được dẫn theo Kinh Thi “Duy tang dữ tử, tất cung kính chi”, nghĩa là cây tang, cây tử do cha mẹ trồng. Ý chỉ cha mẹ nơi quê hương.
-
Nguyên văn là chữ “kiều sở”, trội nhất trong loài chim gọi là “kiều” và trội nhất trong loài cây là “sở”. Chỉ tài đức hơn người.
- Nguyễn Mậu Thịnh người xã Kim Sơn huyện Gia Lâm, cháu nội Nguyễn Mậu Tài, 24 tuổi đỗ Tiến sĩ, đi sứ nhà Thanh, về được phong làm Phó Đô ngự sử, lúc mất tặng Hộ bộ Tả thị lang, có 51 bài thơ chữ Hán chép trong Toàn Việt thi lục.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 300 – 311.