Hậu thần bi kí
後神碑記
Kí hiệu: 2466/2469
Thác bản bia đình Phù Ninh (nay không còn), xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại Thạch Sàng xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 72 x 116 cm, gồm 39 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1500 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Trị thứ 7 (1669).
Người soạn: Phạm [Văn Đạt] 范文達; quê quán: xã Thọ Bình huyện Đông An phủ Khoái Châu; học vị: Tiến sĩ khoa Bính Tuất; chức vị: Quốc tử giám Tư nghiệp; tước Thọ Vinh tử.
Người viết chữ: Nguyễn Hữu Dụng 阮有用; chức vị: Thư tả; tước Thiêm Lương nam.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Thơ văn.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Nguyên văn chữ Hán
后 神 碑 記
尊立阮太保爲后神陶夫人爲后佛碑記並銘
嘗謂神者靈也,所以靈化萬事,能虛靈盛德始謂之神;佛者覺也,所以覺悟群生,能明心見性則可成佛。而民有受恩於人者,其可不厚人之親,尊立附後以事之乎?
謄茲慈山府東岸縣扶寧社上中下三村官員鄉老斯文社村長陳廷堅、石公太。。。。上下巨大等,承見本社尊貴官右象奇兼知公象該官詠郡公優力士才邁常傑,德出佐大元師掌國政尚師太父德功仁威文明聖西王,內則入作腸心,外則出爲牙距,總率周虎賁之旅,力宣斧指鉞揮。累蒙漢爵邑之榮,祿有鍾鳴鼎食。恩助受於國惠,又及於鄉。見本社未有瓦亭,己亥年既發家財累萬緡構成立宇三間二廈;見內鄉猶存官役,丁未歲再許青錢三百貫及肥田陸畝五高,又有碗田五高,以爲獻供諸佛。其恩民之意也深,質自古此人罕有。
茲本社感此恩義,徵諸詩曰“投之以瓜,報之以瓊”。況長官嘗有功德於民,而民其可不厚報之乎?乃共會議,尊立長官親父前都指揮僉參督贈太保茲追尊爲真字廣成德量城隍附其後神,遞年入席求福迎接位在神靈之右。遞年忌臘,每甲炊一盤米當十斗,雞一隻當錢二陌,酒一埕,四時祠倫蒸嘗,如神之祭。萬代衣冠禮樂,永後無窮。又尊長官親母前參督贈太保夫人陶氏號慈信爲慈惠知妙明光菩薩。其健在則爲長壽佛,至萬歲後則爲慈悲智沙明光佛。遞年逐月朔望獻供如儀,其忌臘如事神禮。英靈照耀,保護全鄉。自今某人及後代某人違約,願天地照監。是約不移如山也,因勒于碑以傳後世,垂無窮。豈止榮一時誇一鄉而已哉!然言之不足,又銘以言贊之。銘曰:
天開南國
地美北京
縣名東岸
社號扶寧
氣鍾敏秀
人挺精英
謁稱貴將
出佐聖明
功多國植
福潤家榮
恩推鄉及
樂與民行
亭興年己
錢賜歲丁
普施恩潭
感悅人情
感恩此德
共效報瓊
尊公顯父
配後神靈
敬公慈母
列供佛庭
歲時饗報
世代香馨
千年猶詠
永久斯銘
皇朝萬萬年之七孟冬節穀日
賜丙戌科進士特進金紫榮祿大夫國子監司業壽榮子快州東安壽平范拙撰
書寫添良男阮有用寫
流傳萬代
貴鄉誓銘:
皇天后土
照鑒此心
背義忘恩
天地可表
是用誓銘
附勒碑左
天長地久
遺戒後生
千秋萬歲之後,永永香火與天地相爲始終;百世萬世之後,嚴嚴廟貌等天地輝耀。威名千載之下,不移如山。此盟:
皇天后土
照鑒此心
背義忘恩
天地可表
是用誓銘
附勒碑左
天長地久
遺戒後生
本社官員鄉老社村長上下巨大等記。
歲次己酉年孟冬節穀日。
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi ký
Tôn lập Nguyễn Thái bảo vi Hậu Thần, Đào phu nhân vi Hậu Phật bi kí tính minh.
Thường vị: Thần giả linh dã, sở dĩ linh hoá vạn sự, năng hựu linh thịnh đức, thùy vị chi Thần. Phật giả giác dã, sở dĩ giác ngộ quần sinh, năng minh tâm kiến tính, tắc khả thành Phật nhi dân hữu thụ ân ư nhân giả. Kỳ khả bất hậu nhân chi thân, tôn lập phụ hậu dĩ sự chi hồ?
Quyền tư, Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Phù Ninh xã Thượng, Trung, Hạ tam thôn quan viên, hương lão, tư văn, xã thôn trưởng Trần Đình Kiên, Thạch Công Thái, Thạch Công Dụ, Ngô Đình Vinh, Trần Đắc Miên, Nguyễn Đăng Triều, Ngô Đức Nhuận, Nguyễn Đình Dụ, Nguyễn Đức Môn, Đào Đình Đức, Đào Tiến Vinh, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Đình Lộc, Nguyễn Tiến Triều, Thạch Công Thọ, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Như Khuê, Nguyễn Thế Trị, Nguyễn Khắc Vinh, Nguyễn Khắc Ninh, Nguyễn Thời Chính, Nguyễn Đức Khải, Nguyễn Chí Kính, Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Phúc Diên, Đỗ Công Trân, Nguyễn Đức Cường, Thạch Công Hiển, Nguyễn Hữu Thường, Nguyễn Đức Trạch, Nguyễn Phúc Chính, Nguyễn Như Trân, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Công Trung, Thạch Công Đĩnh, Nguyễn Như Khoa, Nguyễn Tông Trị, thượng hạ đẳng cự tiểu đẳng thừa kiến bản xã tôn quý quan Hữu tượng cơ, Thiêm tri công tượng Cai quan Vịnh Quận công, Ưu lục sĩ. Tài mại Thượng Kiệt, đức xuất tá Đại nguyên súy chưởng quốc chính Thượng sư thái phó, Đức công Nhân uy Minh thành Tây Vương. Nội tắc nhập tác trướng tâm, ngoại tắc xuất vi nhu cự. Tổng suất Chu Hổ Bi chi lữ, lục tuyên phù chi việt huy; lũy mông Hán tước ấp chi vinh, lộc hữu chung minh đỉnh thực ân, trợ thụ ư quốc, huệ hựu cập ư hương! Kiến bản xã vị hựu ngõa đình, Kỷ Hợi niên kỷ phát gia tài lũy vạn dân, cấu thành vũ tam gian nhị hạ. Kiến nội hương do tổn quan dịch, Đinh Mùi tuế, tài hứa thanh tiền tam bách quan, cập phi điền lục mẫu ngũ cao, hựu hữu oản điền ngũ cao dĩ vi hiến cúng chư Phật. Kỳ ân dân chi ý dã. Thâm chất tự cổ, thử nhân hãn hữu.
Tư, bản xã cảm thử ân nghĩa, trưng chư Thi viết: “Đầu chi dĩ qua, báo chi dĩ quỳnh”. Huống trưởng quan thường hữu công đức ư dân, nhi dân kỳ khả bất hậu báo chi hồ? Nãi cộng hội luận, tôn lập trưởng quan thân phụ tiền Đô chỉ huy, Thiêm Tham đốc, tặng Thái bảo, tư truy tôn vi Chân Vũ Quảng Thánh Đức Lượng Thánh hoàng, phụ kỳ Hậu Thần. Đệ niên nhập tịch cầu phúc, nghênh tiếp vị tại thần linh chi hữu. Đệ niên kỵ lạp, mỗi giáp suy nhất bàn, mễ đương thập đấu, kẻ nhất song đương tiền nhị mạch, tửu nhất trinh. Tư thời tư luân chúng thường, như thần chi tế. Vạn đại y quan lễ nhạc, vĩnh hậu vô cùng. Hựu tôn trưởng quan thân mẫu tiền Tham đốc tặng Thái bảo Phu nhân Đào thị hiệu Từ Tín vi Từ bi Trí diệu Minh Quang Bồ tát. Kỳ kiến tại tác vi trường thọ Phật. Chí vạn tuế hậu tác vi Từ Bi Trí Diệu Minh Quang Phật. Đệ niên trực nguyệt, sóc vọng hiến cúng như nghi. Kỳ kỵ lạp như sự thần lễ. Anh linh chiếu diệu bảo hộ toàn hương. Tư kim mỗ nhân, cập hậu đại mỗ nhân vi ước, nguyện thiên địa chiếu giám. Thệ ước bất di, như sơn dã. Nhân lặc vu bi, dĩ truyền hậu thế, thùy vô cùng. Khởi chi vinh nhất thời, khoa nhất hương nhi dĩ tai! Nhiên, ngôn chi bất túc, hậu minh dĩ tán chi. Minh viết:
Thiên khai Nam quốc
Địa mĩ Bắc Kinh
Huyện danh Đông Ngạn
Xã hiệu Phù Ninh
Khí chung mẫn tú
Nhân đĩnh tinh anh
Yết xưng quý tướng
Xuất tá Thánh minh
Công đa quốc thực
Phúc nhuận gia vinh
Ân suy hương cập
Lạc dữ dân hành
Đình hưng niên Kỉ
Tiền tứ tuế Đinh
Phổ thí ân trạch
Cảm duyệt nhân tình
Hâm tư thử đức
Cộng hiệu báo quỳnh
Tôn công hiển phụ
Phối hậu Thần linh
Kính công từ mẫu
Liệt cúng Phật đình
Tuế thời hưởng báo
Thế đại hương hình
Thiên niên do vịnh
Vĩnh cửu tư minh.
Hoàng Thượng vạn vạn niên chi thất mạnh đông tiết cốc nhật.
Tứ Bính Tuất khoa Tiến sĩ Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Quốc tử giám Tư nghiệp, Thọ Vinh tử, Khoái Châu, Đông An, Thọ Bình Phạm chuyết soạn. Thư tả Thiêm Lương nam Nguyễn Hữu Dung tả.
Lưu truyền vạn đại
Quý hương thệ minh:
Thiên địa cao hậu
Thần Thánh uy linh
Sơn hà nhất chỉ
Nhật nguyệt tinh minh
Nhi kim nhi hậu
Chí kính chí thành.
Thiên thu vạn tuế chi hậu vĩnh vĩnh hương hoả dĩ thiên địa tương vi thuỷ chung bách thế. Vạn thế chi hậu, nghiêm nghiêm miếu mạo đẳng thiên địa huy diệu uy danh thiên tải chi hạ, bất di như sơn thử minh.
Hoàng thiên hậu thổ
Chiếu giám thử tâm
Bội nghĩa vong ân
Thiên địa khả biểu
Thị dụng thệ minh
Phụ lặc bi tả
Thiên trường địa cửu
Di giới hậu sinh.
Bản xã quan viên hương lão xã thôn trưởng thượng hạ cự tiểu đẳng kí:
Nguyễn Tông Trạc….
Tuế thứ Kỉ Dậu niên mạnh thu tiết cốc nhật.
Lưu truyền vạn đại
Dịch nghĩa tiếng Việt
Hậu Thần bi ký
Văn bia và bài minh về việc tôn lập quan Thái bảo họ Nguyễn làm Hậu Thần và Đào phu nhân làm Hậu Phật.
Thường nghe nói rằng, thần là sự linh thiêng, để linh hóa mọi việc. Vừa có khả năng phù hộ linh thiêng, vừa có đức tốt mới gọi là Thần. Phật là sự giác ngộ, để giác ngộ mọi người. Thấy rõ được lòng người, nhận biết bản chất sự việc là thành Phật rồi đó.
Dân được đội ơn người, lẽ nào không hậu đãi người thân của người, tôn thờ làm Hậu Thần, Hậu Phật.
Nay quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, hội Tư văn cùng các bậc trên dưới của ba thôn Thượng, Trung, Hạ thuộc xã Phù Ninh, huyện Đông Ngạn, phủ Từ Sơn, gồm: Trần Đình Kiên, Thạch Công Thái, Thạch Công Dụ, Ngô Đình Vinh, Trần Đắc Tuyên, Nguyễn Đăng Triều, Ngô Đức Nhuận, Nguyễn Đình Dụ, Nguyễn Đức Môn, Đào Đình Đức, Đào Tiến Vinh, Nguyễn Văn Lương, Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Tiến Triều, Thạch Công Thọ, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Như Khuê, Nguyễn Thế Trị, Nguyễn Khắc Vinh, Nguyễn Khắc Ninh, Nguyễn Thời Chính, Nguyễn Đức Khải, Nguyễn Chỉ Kính, Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Phúc Diên, Đỗ Công Trân, Nguyễn Đức Cường, Thạch Công Hiển, Nguyễn Hữu Thường, Nguyễn Đức Trạch, Nguyễn Phúc Chính, Nguyễn Như Trân, Nguyễn Công Thành, Nguyễn Công Trung, Thạch Công Đĩnh, Nguyễn Như Khoa, Nguyễn Tông Trị, cùng các bậc trên dưới lớn nhỏ nhận thấy vị quan tôn quý của xã nhà, chức Hữu tượng cơ Thiêm tri công tượng cai quan Vịnh Quận công, là lực sĩ hạng ưu, tài như [Lý] Thường Kiệt, ra giúp Đại nguyên súy chưởng quốc chính Thượng sư thái phụ Đức công nhân uy Minh thành Tây vương [Trịnh Tạc]. Vào trong triều làm người tâm phúc, ra ngoài làm tướng vuốt nanh, chỉ huy đội quân dũng mãnh, sức mạnh như búa rìu, được nhận tước trọng cao sang, lộc phong hơn đỉnh vạc. Lộc nước ông được ban tặng; tình quê ông chẳng hề quên. Thấy xã nhà chưa có ngôi đình, bèn bỏ của riêng tư vào năm Kỷ Hợi (1659) có đến vạn dân, dựng thành nhà 3 gian 2 chái. Ông thấy trong làng còn nhiều việc phải phí tổn, nên năm Đinh Mùi (1667), lại cho thêm ba trăm quan nữa và ruộng tốt sáu mẫu năm sào, ruộng oản cúng được 5 sào lo việc tế tự. Tình ân ái đối với dân khác nào chư Phật, người như thế xưa nay hiếm thấy.
Nay xã nhà cảm cái ân nghĩa ấy, xin mượn câu trong Kinh Thi để biểu tỏ “Đầu chi dĩ qua, Báo chi dĩ quỳnh” ([Người] cho quả dưa, [ta] trả ơn bằng ngọc). Huống chi quan đã từng có công đức với dân, dân lẽ nào không hậu tạ. Bèn cùng nhau họp bàn tôn lập thân phụ của trưởng quan nguyên Đô chỉ huy Thiêm Tham đốc, tặng Thái bảo. Nay truy tôn là Chân Vũ Quảng Thánh Đức Lượng thánh hoàng, được phụ thờ Hậu Thần. Hằng năm đến lễ nhập tịch cầu phúc, rước bài vị đặt ở bên phải thần linh. Hằng năm đến ngày giỗ chạp, mỗi giáp một mâm xôi tương đương với 10 đấu gạo, 1 con gà giá 1 tiền 2 mạch, 1 chai rượu. Bốn mùa hương đèn thờ cúng như tế thần, muôn đời áo mũ lễ nhạc không dứt. Suy tôn thân mẫu của trưởng quan, nguyên là phu nhân của Tham đốc được tặng Thái bảo, họ Đào hiệu Từ Tín làm Từ bi Trí diệu Minh Quang Bồ tát, đặt bên cạnh làm Phật trường thọ, đến muôn đời sau sẽ là Từ bi Trí diệu Minh Quang Phật. Hằng tháng đến ngày mồng 1 và ngày rằm thờ cúng đúng nghi lễ. Còn giỗ chạp thì theo như lễ thờ Thần, để anh linh chiếu dọi, bảo vệ xóm làng. Từ nay về sau, người nào làm trái, xin trời đất soi xét. Lời ước này không đổi thay, như núi kia vậy. Nhân khắc vào bia để truyền lại cho đời sau không bao giờ ngừng nghỉ. Vẻ vang một thời, ngợi ca cả xã. Lời chưa hết ý, bèn làm thêm bài minh để ca ngợi. Minh rằng:
Trời mở Nam Việt
Đất lành Bắc Ninh
Huyện tên Đông Ngạn
Xã gọi Phù Ninh
Nguyên khí chung đúc
Người thật tinh anh
Xứng danh tướng giỏi
Ra giúp thánh minh
Công nhiều giữ nước
Phúc lớn nhà vinh
Tình làng nghĩa xóm
Gắn bó dân lành
Đình xây năm Kỷ
Cho tiền năm Đinh
Ban nhiều ân trạch
Cảm phục nhân tình
Đều nhờ đức ấy
Cùng nguyện đáp đền
Tôn bầu thân phụ
Phối hưởng thần linh
Kính thờ từ mẫu
Cúng ở miếu đình
Quanh năm thờ phụng
Muôn thừa đèn nhang
Đời đời tạc dạ
Sáng ngời bài minh.
Ngày lành tiết đầu đông năm thứ 7 Hoàng Thượng1.
Vị họ Phạm2, Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646), chức Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu, Tư nghiệp Quốc tử giám, tước Thọ Vinh tử, người xã Thọ Bình huyện Đông An phủ Khoái Châu soạn văn bia.
Thư tả Nguyễn Hữu Dung, tước Thiêm Lương nam viết chữ.
Lưu truyền muôn đời
Khắc ghi lời thề của quý làng:
Trời đất cao rộng
Thần thánh uy linh
Giang san ngẩng mặt
Nhật nguyệt thấu tình
Lưu truyền muôn thừa
Tất kính, tất thành.
Muôn đời hương hỏa,
Thủy chung đất trời;
Nghiêm trang miếu mạo,
Rạng cùng nước non.
Uy danh muôn kiếp,
Vững như núi kia.
Trời cho đất tốt
Soi xét nhân tâm
Bội nghĩa vong ân
Trời đất phạt tội
Nay soạn bài minh
Khắc vào bên trái.
Trời đất trường cửu,
Di chúc hậu sinh.
Bản xã quan viên, hương lão, xã thôn trưởng các bậc lớn nhỏ cùng ký.
Nguyễn Công Thạc, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Khắc Huân, Nguyễn Đức Thận, Nguyễn Phúc Chính, Nguyễn Tất Cường, Nguyễn Tam Lược, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Hữu Vi, Ngô Đức Bản, Nguyễn Văn Uy, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Đức Dụng, Nguyễn Gia Khánh, Nguyễn Hữu Lễ, Nguyễn Tất Dũng, Nguyễn Thọ Đình, Nguyễn Lệnh Vi, Thạch Công Hổ, Nguyễn Văn Phù, Nguyễn Văn Phạm, Nguyễn Phúc Tĩnh, Nguyễn Thọ Trí, Nguyễn Tất Xứng, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Sùng, Thạch Công Vị, Đào Tiến Học, Thạch Nhã Lượng, Đào Tiến Hiến, Nguyễn Văn Thuần, Nguyễn Thụ Lương, Nguyễn Văn Sử, Nguyễn Hữu Tiến, Thạch Công Tiến, Nguyễn Văn Sức, Trần Thụ Lộc, Ngô Đức Thảo.
Ngày lành tiết đầu đông năm Kỷ Dậu (1669).
Chú thích
-
Bia dựng năm Kỉ Dậu, vào năm thứ 7 của một niên hiệu vua nào đó. Chỉ có năm thứ 7 của niên hiệu Cảnh Trị là năm Kỷ Dậu (1669). Do vậy, có thể niên đại này là năm 1669, phù hợp với tác giả soạn văn bia.
-
Tức Phạm Văn Đạt, 37 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1646) đời vua Lê Chân Tông.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 275 – 288.