Cự Đà tự bi kí/Hoàng đế vạn tuế thọ
巨陀寺碑記/黃帝萬歲壽
Kí hiệu: 3533/3534
Thác bản bia xã Đa Tốn huyện Gia Lâm 嘉林縣多遜社, sưu tầm tại chùa Cự Đà xã Đa Tốn huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 85 x 130 cm, gồm 51 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1500 chữ, có hoa văn, có chữ húy: Trần .
Niên đại: Đức Long thứ 6 (1634).
Người soạn: Nguyễn Tự Cường 阮自強; học vị: Tiến sĩ khoa Giáp Thìn; chức vị: Lễ bộ Tả Thị lang.
Người viết: Trần Hữu Đức 陳有德; quê quán: huyện Gia Lâm phủ Thuận An; chức vị: Cục phó cục Ngự dụng giám san thư.
Người khắc 1: Nguyễn Thọ Vực 阮壽域.
Người khắc 2: Nguyễn Thọ Ninh 阮壽寧.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Nội dung:
Cự Đà tự bi ký
Nguyên văn chữ Hán
巨陀寺碑記
巨陀寺,祇園之勝概也。界于嘉林多遜社間,左接金蘭,右控上巽。數重秀水遶前,來朝滾滾;千里明山擁後,回抱迢迢。寔北顺招提之勝景。數百年佛日常明,法輪常轉。
樓臺一簇,山歸然獨存。鄉之人皈心象教者,往往崇奉之。但少其規模,未能宏以大。天施縣共武社鄭氏玉奄,字法僊,迺王府第二宮嬪。應明珠入夢之祥,協優缽開花之兆。
禀有金妥玉質,早預鶴帳龍樓。帳龍樓,春盎繁華,滿堂金銀珠玉。日蒙寵祿,有王民社。上田尤能發菩提心,垂方便手。本社寺院,既大重修,天下名藍,亦多興造。壬申歲,因使禪僧何法元,娓號慈綠,營白馬大王廟於多遜市邊。
取楚之村,儷垂之巧,揮月之斧,運風之斤,構作工字。堂宇並用以鐵林,木蓋以蓮花瓦。神祠云畢,佛法增崇。雅慕巨陀風景,欲宏乾竺範模。即造四圍繚墙,以為禪林之趣。增買陸高淨土,以廣梵王之宮。規模從茲輪奐,景物自是昭融。雖兜率所居,何以加此。又繪僊容金相,以為遺像。仍賜寬洪民精銀,以爲宗子。鄉人一心敬信,咸願奉事香火,傳之萬代。因屬余銘,以壽其傳。余惟夫“太上敢應篇”十種利益,而修理寺廟居其一。
茲王嬪陳氏,能修德行思,輕財好施,時時行方便,種種積陰功,將見功成行滿,上可報重恩父母,後必生賢德子孫,全家福慶,累世顯榮,使斯世斯民,共躋仁壽之域。
若夫名登僊藉,位列僊班,常享萬歲氷桃,千年雪藕,恃鄭氏之分內事。古人謂有厚德必有厚福,其言至是驗矣。是宜作銘以紀其實。
銘曰:
多遜地勝
寺廟星羅
規模猶少
興造未多
善乎鄭氏
教得遮那
大施神力
厥作伊何
祠修白馬
寺茸巨陀
宮墙巍嶪
棟宇嵯峨
同居兜率
福降沙婆
千秋永享
百祿是荷
女聯內寵
男擢世科
俗齊壽域
民國風和
此功此德
可鐫可磨
爰銘堅石
長在山河
一大會主
王府第二宮嬪,鄭氏玉埯,字法僊,榮封聖光菩薩。快州府,天施縣,共武社。
一信施
鄭氏玉白,號法通,快州府,天施縣,共武社。
善士何宴,字法元。信娓范氏玉白,號慈緣。順安府,文江縣,菁莪社,仁里村。
南策府,青林縣,同午社,功德錢拾貫錢。
住持本寺,僧賴文卿,字德會,法號玄明。
信娓黄氏玉源,號慈富。
黃氏渭,順安府,嘉林縣,古碑社,柑村。
德龍陸年,歲次甲戌,陽月,榖日。
賜甲辰科進士,特進金紫榮祿大夫,禮部左侍郎,春瀨侯,柱國洪永,前川,阮自強呆叟撰。
秀林局,儒生順嘉,春邑,鄭有德書潟碑。
Phiên âm
Cự Đà tự bi ký
Cự Đà tự, Kỳ Viên chi thắng khái dã. Giới ư Gia Lâm Đa Tốn xã gian, tả tiếp Kim Lan, hữu khống Thượng Tốn. Số trùng tú thủy nhiễu tiền, lai triều cổn cổn; thiên lý minh sơn ủng hậu, hồi bão điêu điêu. Thực Bắc – Thuận chiêu đề chi thắng cảnh. Số bách niên Phật nhật thường minh, pháp luân thường chuyển.
Lâu đài nhất thốc, sơn quy nhiên độc tồn. Hương chi nhân quy tâm tượng giáo giả, vãng vãng sùng phụng chi, đãn thiểu kỳ quy mô, vị năng hồng dĩ đại.
Thiên Thi huyện, Cộng Vũ xã, Trịnh thị Ngọc Yêm, tự Pháp Tiên. Nãi Vương phủ đệ nhị cung tần. Ứng Minh Châu nhập mộng chi tường; hiệp ưu bát khai hoa chi triệu.
Bẩm hữu Kim Thỏa Ngọc Chất, tảo dự hạc trướng long lâu, trướng long lâu xuân áng, phồn hoa mãn đường, kim ngân châu ngọc. Nhật mông sủng lộc, hữu vương dân xã.
Thượng điền vưu năng phát Bồ Đề tâm, thùy phương tiện thủ. Bản xã tự viện ký đại trùng tu, thiên hạ danh lam diệc đa hưng tạo.
Nhâm Thân tuế, nhân sử Thiền Tăng Hà Pháp Nguyên, vãi hiệu Từ Lục, doanh Bạch Mã Đại Vương miếu ư Đa Tốn thị biên.
Thủ sở chi thôn, lệ thùy chi xảo, huy nguyệt chi phủ, vận phong chi cân, cấu tác công tự đường vũ. Tịnh dụng dĩ thiết lâm mộc, cái dĩ liên hoa ngõa. Thần từ vân tất, Phật pháp tăng sùng, nhã mộ Cự Đà phong cảnh, dục hoằng Kiền Trúc phạm mô. Tức tạo tứ vi liễu tường, dĩ vi thiền lâm chi thú, tăng mãi lục cao tịnh thổ, dĩ quảng Phạm vương chi cung. Quy mô tòng tư luân hoán, cảnh vật tự thị chiêu dung, tuy Đâu Suất sở cư, hà dĩ gia thử. Hựu hội tiên dung kim tướng, dĩ vi di tượng. Nhưng tứ Khoan Hồng dân tinh ngân, dĩ vi tông tử. Hương nhân nhất tâm kính tín, hàm nguyện phụng sự hương hỏa, truyền chi vạn đại. Nhân chúc dư minh, dĩ thọ kỳ truyền, dư duy phù Thái Thượng cảm ứng thiên, thập chủng lợi ích, nhi tu lý tự miếu cư kỳ nhất.
Tư vương tần Trần thị, năng tu đức hạnh, tư khinh tài hiếu thi, thời thời hành phương tiện; chủng chủng tích âm công. Tương kiến công thành hạnh mãn, thượng khả báo trọng ân phụ mẫu, hậu tất sinh hiền đức tử tôn, toàn gia phúc khánh, lũy thế hiển vinh, sử tư thế tư dân cộng tê nhân thọ chi vực.
Nhược phù, danh đăng tiên tịch, vị liệt tiên ban, thường hưởng vạn tuế Băng đào, thiên niên Tuyết ngẫu, thị Trịnh thị chi phần nội sự. Cổ nhân vị hữu hậu đức tất hữu hậu phúc, kỳ ngôn chí thị nghiệm hĩ.
Thị nghi tác minh, dĩ kỷ kỳ thực.
Minh viết:
Đa Tốn địa thắng
Tự miếu tinh la
Quy mô do thiểu
Hưng tạo vị đa
Thiện hồ Trịnh thị
Giáo đắc Già Na
Đại thi thần lực
Quyết tác y hà
Từ tu Bạch Mã
Tự nhung Cự Đà
Cung tường nguy hiệp
Đống vũ tà nga
Đồng cư Đâu Suất
Phúc giáng Sa Bà
Thiên thu vĩnh hưởng
Bách lộc thị hà
Nữ liên nội sủng
Nam trác thế khoa
Tục tề Thọ Vực
Dân quốc phong hòa
Thử công thử đức
Khả triên khả ma
Viên minh kiên thạch
Trường tại sơn hà
Nhất Đại Hội Chủ
Vương phủ đệ nhị cung tần Trịnh Thị Ngọc Yêm, tự Pháp Tiên, Vinh phong Thánh Quang Bồ Tát, Khoái Châu phủ, Thiên Thi huyện, Cộng Vũ xã.
Nhất tín thí, Trịnh Thị Ngọc Bạch, hiệu Pháp Thông, Khoái Châu phủ, Thiên Thi huyện, Cộng Vũ xã.
Thiện sĩ Hà Yến, tự Pháp Nguyên, tín vãi Phạm Thị Ngọc Bạch, hiệu Từ Duyên, Thuận An phủ, Văn Giang huyện, Thanh Nga xã, Nhân Lý thôn.
Nam Sách phủ, Thanh Lâm huyện, Đồng Ngọ xã, công đức tiền thập quán tiền.
Trụ trì bản tự, Tăng Lại Văn Khanh, tự Đức Hội, pháp hiệu Huyền Minh.
Tín vãi Hoàng Thị Ngọc Nguyên, hiệu Từ Phú.
Hoàng Thị Vị, Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Cổ Bi xã, Cam thôn.
Đức Long Lục niên, tuế thứ Giáp Tuất, Dương nguyệt Cốc nhật.
Tứ Giáp Thìn khoa Tiến sĩ, Đặc tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại phu, Lễ bộ Tả thị lang, Xuân Lại hầu, Trụ quốc Hồng Vĩnh, Tiền Xuyên Nguyễn Tự Cường, ngốc tẩu soạn.
Tú Lâm cục, Nho sinh Thuận Gia Xuân ấp, Trịnh Hữu Đức thư tích bi.
Dịch nghĩa
Bia ghi chép về chùa Cự Đà
Chùa Cự Đà, thắng cảnh Kỳ viên ấy vậy. Địa giới thuộc nơi xã Đa Tốn huyện Gia Lâm. Bên trái tiếp giáp Kim Lan, phía phải nối liền Thượng Tốn. Mấy dòng nước biếc ôm phía trước, cuồn cuộn chầu về; muôn dặm núi xanh bao bọc đằng sau, xa xa hướng về. Thực là nơi thắng cảnh Chiêu Đề đất Bắc – Thuận. Mấy trăm năm, mặt trời Phật pháp luôn tỏa sáng, giáo pháp của Phật thấu triệt mọi nơi.
Lầu đài một dải, núi hướng về mà riêng một cõi. Dân nơi đây, nhưỡng người quy tâm Tượng giáo, đều thường thường tôn sùng thờ phụng nơi này. Nhưng mà, quy mô nơi đây còn nhỏ bé, chưa thể mở rộng cho to lớn quy mô.
Nay có, bà Trịnh Thị Ngọc Yêm, tự Pháp Tiên, người xã Cộng Vũ, huyện Thiên Thi, là Đệ nhị cung tần nơi Vương phủ, người ứng “minh châu nhập mộng”; điềm hợp “Ưu bát khai hoa”, phú bẩm thể vàng chất ngọc, sớm dự vào chốn lầu rồng trướng hạc, hiển quý thanh sang, vàng bạc châu ngọc đầy nhà, ngày ngày được ân sủng ban lộc, có ruộng tốt vương ban dân sắm ở trong xã, bà lại càng phát tâm Bồ đề, tay rủ ban phương tiện. Tự viện bản xã đã đại trùng tu, mà các danh lam trong thiên hạ cũng nhiều nơi hưng tạo. Năm Nhâm Thân, nhân việc sai phái thiền tăng Hà Pháp Nguyên, vãi chùa hiệu Từ Duyên xây dựng miếu Bạch Mã Đại vương ở cạnh chợ Đa Tốn, lấy [] thôn; kén thợ khéo, múa rìu trăng, loan búa gó, xây dựng nhà đường theo hình chữ “công”, xây dựng dùng gỗ lim, lập mái ngói hoa sen. Thần từ hoàn tất, Phật pháp thêm sùng, lại hâm mộ phong cảnh Cự Đà, ý muốn mở rộng quy mô Càn Trúc. Cho nên bà lại cho xây tường bao quanh bốn phía, để làm nơi tụ về của thiền lâm. Thêm nữa, bà lại mua sáu sào đất thanh tịnh, để mở rộng cảnh chùa. Quy mô cảnh Phật theo đó thêm rộng lớn, cảnh vật nhờ đây nguy nga rạng rỡ. Cho dù như ở cung trời Đâu Suất, thì cũng có lấy gì hơn thế. Thêm nữa lại tô vẽ tượng Phật, để làm di tượng về sau. Thêm nữa, bà lại ban bạc ròng cho dân thôn Khoan Hồng để làm “Tông tử”, mọi người trong thôn ai nấy đều một lòng kính tín, thảy đều nguyện hương hỏa phụng thờ, lưu truyền muôn đời.
Nhân đó phó thác cho tôi làm bài minh để lưu truyền lâu dài.
Tôi duy có thấy mười điều lợi ích ghi trong sách Thái thượng cảm ứng, thì việc tu sửa chùa miếu ấy chính là một điều trong mời điều đó vây.
Nay Vương tần họ Trần thực là người tu đức hạnh, ý coi nhẹ tài vật, mà ham việc bố thí. Thường thường làm phương tiện, chăm chắm tích lũy âm công. Thấy công đức sắp thành tựu, ý hạnh sắp tròn đầy. Trên có thể báo trọng ơn cha mẹ, đời sau ắt sinh con cháu đức hiền, toàn gia hưởng phúc, nối đời hiển vinh, khiến cho người đời nay, dân đời nay, cùng bước vào cõi thọ. Giống như, tên tuổi ghi ở sổ tiên, thứ vị an nhiên cảnh thánh, muôn năm vui hưởng quả Băng đào, mãi mãi thưởng thức trái Tuyết ngẫu. Cõi cảnh lạc tiên ấy, thực toàn nhờ trong một tay tôn bà họ Trần gây dựng.
Người xưa nói, có đức dày, ắt có phúc dày. Lời nói ấy rất mực là linh nghiệm đó vậy. Vì vậy làm bài minh để ghi chép sự thực ấy.
Minh rằng:
Thắng địa Đa Tốn
Chùa, miếu lung linh
Quy mô còn nhỏ
Hưng tạo chưa nhiều
Lành thay họ Trịnh
Pháp được Phật đà
Uy hành thần lực
Việc ấy nhờ đâu?
Dựng đền Bạch Mã
Sửa chùa Cự Đà
Cung tường vòi vọi
Xà cột nguy nga
Như cõi Đâu Suất
Phúc xuống Sa Bà
Nghìn thu mãi hưởng
Muôn lộc ban nhận
Nữ nhân ngự sủng
Nam đạt khoa danh
Lệ như cõi thọ
Dân thịnh nước giàu
Công ấy đức ấy
Phải khắc phải mài
Sánh cùng sông núi.
Đại hội chủ, Vương phủ đệ nhị cung tần Trần Thị Ngọc Yêm, đổi quốc tính là Trịnh Thị Ngọc Yêm, tự là Pháp Tiên, được vinh phong là Thánh Quang Bồ tát, người xã Cộng Vũ huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.
Tín thí, Trần Thị Ngọc Bạch, hiệu Pháp Thông, người xã Cộng Vũ huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu. Thiện sỹ Hà Án, tự Pháp Nguyên. Tín vãi Phạm Thị Ngọc Bạch, hiệu Từ Duyên, người thôn Nhân Lý, xã Thanh Nga huyện Văn Giang phủ Thuận An.
Xã Đồng Ngọ huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách công đức tiền 10 quan.
Trụ trì bản tự, tăng Lại Văn Khanh, tự Đức Hội, pháp hiệu Huyền Minh.
Tín vãi Hoàng Thị Ngọc Nguyên, hiệu Từ Phú; Hoàng Thị Vị người thôn Cam, xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An.
Ngày lành, tháng dương năm Giáp Tuất, năm thứ 6 niên hiệu Đức Long.
Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Tả Thị lang bộ Lễ, tước Xuân Lại hầu, Trụ quốc Hồng Vĩnh Tiền Xuyên, Nguyễn Tự Cường – Ngốc tẩu soạn.
Trần Hữu Đức, Nho sinh ở Tú Lâm cục, người ấp Xuân [], huyện Gia [Lâm] phủ Thuận An viết chữ để khắc bia.
Hoàng đế vạn tuế thọ
Nguyên văn chữ Hán
黃帝萬歲壽
王府第二宮嬪陳氏玉奄,改國姓鄭氏玉奄,字法僊,榮封聖光菩薩。為 立券約事。
所謂天地之恩,弘施覆載;求乎臣子之道,必做孝忠。
茲王府第二宮嬪,陳氏,既同今世之榮華,更翼方來之福祉。首發拾成銀子九鎰造白馬祠。仍
資方孔兄數緡,修巨陀寺,始買福田参畝。又添淨土陸高,乃施為三寶物。付與巨陀寺禪僧等耕種,奉事焚香。祝聖流傳萬代,保饗千年,以至天地久長,山河帶礪。或有萌心姦計,背義忘恩,侵占奪其田土,甘受罪苦沉淪。其他違約等詞,付與神明照鑒。茲端。
一信施田土
計:
一所,艽榮處田二畝,東近玉洞村民田,南近本村阮安,西近缽場社民田,北近本村黎大德。
一所,塘帶處田五高,東近玉洞村民田,南近缽場社民田,西近[本] 村阮優,北近本村甘廷箴田。
一所,塘帶處田五高,東近玉洞村民田,南近玉洞村民田,西近本村甘文瓊,北近玉洞村民田。
一淨土陸高,後寺[],東西四[…]。
順安府,嘉林縣,多遜社,寬洪村,官員鄉長上下大小等。
計:
[]甘宗接,阮正,杜如圭,黃成,阮諍,阮安,阮厚,甘廷茂,阮克謙,甘文瓊,杜如榮,黎大慶,阮登,阮克誠,阮棟,陶鎮,黎仁忠,陶沛,阮盛,阮文嘉,阮文定等 。陶文制,阮餘。
皇朝德隆萬萬年之六,陽月,穀日。
洪福,柳紅,御用監刊書局,局副,仁良男,阮壽域,阮金橘,文強男,范德通 ,仁賢男,阮壽功,阮壽康,阮壽寧等刊。
Phiên âm
Hoàng đế vạn tuế thọ
Vương phủ đệ nhị cung tần Trần Thị Ngọc Yêm, cải quốc tính Trịnh Thị Ngọc Yêm, tự Pháp Tiên, vinh phong Thánh Quang Bồ tát. Vi lập khoán ước sự.
Sở vị thiên địa chi ân, hoằng thí phú tái; cầu hồ thần tử chi đạo, tất tố hiếu trung.
Tư vương phủ đệ nhị cung tần Trần thị, ký đồng kim thế chi vinh hoa, cánh dực phương lai chi phúc chỉ. Thủ phát thập thành ngân tử cửu dật, tạo Bạch Mã từ. Nhưng tư phương lễ huynh sổ mân, tu Cự Đà tự. Thủy mãi phúc điền tam mẫu, hựu thiêm tịnh thổ lục cao. Nãi thí vi Tam bảo vật, phó dữ Cự Đà tự thiền tăng đẳng canh chủng, phụng sự phần hương.
Chúc thánh lưu truyền vạn đại, bảo hương thiên niên, dĩ chí thiên địa cửu trường, sơn hà đới lệ. Hoặc hữu manh tâm gian kế, bội nghĩa vong ân, xâm chiếm đoạt kỳ điền thổ, cam thụ tội khổ trầm luân. Kỳ tha vi ước đẳng từ, phó dữ thần minh chiếu giám. Tư đoan.
Nhất tín thí điền thổ.
Kê:
Nhất sở Phong/ Bông Vinh xứ điền nhị mẫu, Đông cận Ngọc Động thôn dân điền, Nam cận bản thôn Nguyễn An, Tây cận Bát Tràng xã dân điền, Bắc cận bản thôn Lê Đại Đức.
Nhất sở Đường Đới xứ điền ngũ cao, Đông cận Ngọc Động thôn dân điền, Nam cận Ngọc Động thôn dân điền, Tây cận bản thôn Cam Văn Quỳnh, Bắc cận Ngọc Động thôn dân điền.
Nhất tịnh thổ lục cao, hậu tự [], Đông Tây tứ […].
Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Đa Tốn xã, Khoan Hồng thôn, Quan viên hương trưởng thượng hạ cự tiểu đẳng.
Kê:
[] Cam Tông Tiếp, Nguyễn Chính, Đỗ Như Khuê, Hoàng Thành, Nguyễn Tĩnh, Nguyễn An, Nguyễn Hậu, Cam Đình Mậu, Nguyễn Khắc Khiêm, Cam Văn Quỳnh, Đỗ Như Vinh, Lê Đại Khánh, Nguyễn Đăng, Nguyễn Khắc Thành, Nguyễn Đống, Đào Tuấn, Lê Nhân Trung, Đào Bái, Đào Văn Chế, Nguyễn Dư, Nguyễn Thịnh, Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Định, Đào Văn Chế, Nguyễn Dư.
Hoàng triều Đức Long vạn vạn niên chi lục, dương nguyệt, cốc nhật.
Hồng Phúc, Liễu Hồng, Ngự dụng giám san thư cục, Cục phó, Nhân Lương nam, Nguyễn Thọ Vực, Nguyễn Kim Quất, Văn Cường nam, Phạm Đức Dũng, Nhân Hiền nam, Nguyễn Thọ Công, Nguyễn Thọ Khang, Nguyễn Thọ Ninh đẳng san.
Dịch nghĩa
Hoàng đế thọ muôn năm
Vương phủ đệ nhị cung tần Trần Thị Ngọc Yêm, đổi quốc tính là Trịnh Thị Ngọc Yêm, tự Pháp Tiên, được vinh phong là Thánh Quang Bồ tát. Vì việc lập khoán ước.
Cái gọi là ơn của trời đất, ấy là rộng lớn vận hành che chở, truy cầu đạo ở người thần tử, ắt là việc hiếu trung.
Nay có Vương phủ đệ nhị cung tần họ Trần, đã có sự vinh hoa của đời nay, mà lại càng trợ giúp phúc quả phương tiện cho tương lai. Mới đầu bà phát chín dật bạc để góp tạo đền Bạch Mã, rồi lại tiếp tục góp vốn mời phương, hơn nhiều sâu tiền để sửa chùa Cự Đà. Vừa mua ruộng phúc 3 mẫu, lại thêm đất thanh tịnh 6 sào để cúng làm vật của Tam bảo, giao cho các Tăng chùa Cự Đà cày cấy, thu hoa lợi để phụng sự hương đèn. Cầu chúc thánh đế lưu truyền muôn đời, bảo vệ hưởng mãi, trường tồn cùng trời đất núi sông. Nếu như có kẻ nào manh tâm gian trá, bội nghĩa vong ơn, lấn xâm chiếm đoạt chỗ ruộng đất ấy. Thì phải chịu tội khổ trầm luân, ấy cũng là làm trái với điều ước. Điều ước này gửi nhờ thần minh chiếu giám. Nay cam đoan.
Ruộng đất tín thí.
Liệt kê:
Một thửa ruộng hai mẫu, ở xứ Bông Vinh, Đông giáp ruộng dân thôn Ngọc Động. Nam giáp nhà Nguyễn An thôn ta, Tây giáp ruộng dân xã Bát Tràng, Bắc giáp đất nhà Lê Đại Đức thôn ta.
Một thửa năm sào, tại xứ Đường Đới, Đông giáp ruộng dân thôn Ngọc Động, Nam giáp ruộng dân xã Bát Tràng, Tây giáp đất nhà Nguyễn Ưu thôn ta, Bắc giáp ruộng nhà Cam Đình Châm thôn ta.
Một thửa năm sào ở xứ Đường Đới, Đông giáp ruộng dân thôn Ngọc Động, Nam giáp ruộng dân thôn Ngọc Động, Tây giáp đất nhà Cam Văn Quỳnh thôn ta, Bắc giáp ruộng dân thôn Ngọc Động.
Một thửa đất sáu sào, ở sau chùa [], Đông Tây tiếp giáp […].
Quan viên trên dưới lớn nhỏ, hương trưởng, quan viên, thôn Khoan Hồng, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An.
Liệt kê:
Cam Tông Tiếp, Nguyễn Chính, Đỗ Như Khuê, Hoàng Thành, Nguyễn Tĩnh, Nguyễn An, Nguyễn Hậu, Cam Đình Mậu, Nguyễn Khắc Khiêm, Cam Văn Quỳnh, Đỗ Như Vinh, Lê Đại Khánh, Nguyễn Đăng, Nguyễn Khắc Thành, Nguyễn Đống, Đào Tuấn, Lê Nhân Trung, Đào Bái, Đào Văn Chế, Nguyễn Dư, Nguyễn Thịnh, Nguyễn Văn Gia, Nguyễn Văn Định.
Ngày lành, tháng dương, năm thứ 6 niên hiệu Đức Long.
Các thành viên gồm: Nguyễn Thọ Vực – Cục phó Ngự dụng giám san thư cục tước Nhân Lương nam, Nguyễn Kim Quất, tước Văn Cường nam Phạm Đức Thông, tước Nhân Nghĩa nam, Nguyễn Thọ Công, Nguyễn Thọ Khang, Nguyễn Thọ Ninh người ở Liễu Chàng và Hồng Lục, huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng khắc bia.