Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Triều Khúc tên chữ là là Hương Vân tự. Chùa nằm trong khuôn viên rộng khoảng 2.500m2, thuộc thôn Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Chùa cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km về phía Tây trên đường đi Hà Đông.
Xa xưa, chùa có tên là Vân Mộng tự. Tên này là do một thí chủ mơ thấy một đám mây lành tụ lại trên mảnh đất của chùa nên khi xây dựng chùa xong lấy tên là Vân Mộng tự. Sau đó, lại có một thí chủ thấy mảnh đất hiện tại của chùa có hình cái chén tỏa ra hương thơm nên đặt tên chùa là Hương Chản tự.
Làng Triều Khúc thuở xa xưa được gọi là trang Khúc Giang, còn có tên nôm là Đơ Đồng vì lúc ấy dân làng sống chính bằng nghề nông, sau khi có nghề dệt quai thao mới gọi là Đơ Thao, cạnh làng Triều Khúc có làng Yên Xá tên nôm là Đơ Bùi.
Lịch sử và nhân vật
Căn cứ vào dấu tích còn lưu lại trên bộ câu đối ở toà Tam Bảo, trong đó có vế đối: “Hương Vân tự Cổ Tòng Đinh – Lý – Trần – Lê Kỷ Kinh Vật Hoán Tinh Di Thần Thông Tự Tại”, có quan điểm cho rằng chùa Triều Khúc có lịch sử hình thành cách đây khoảng 1.000 năm. Tuy vậy, căn cứ khối kiến trúc vật chất và bộ sưu tập di vật văn hóa hiện còn lưu giữ tại chùa cũng có thể đoán định chùa được xây dựng vào khoảng cuối thời Lê và được tu sửa nhiều lần vào thời Nguyễn.
Chùa cũng đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Năm 1936, sư Tổ Thích Thanh Khánh trụ trì chùa đã nhận được sự giúp đỡ của sư Tổ chùa Bát Mẫu (là người địa phương Triều Khúc) cùng với chính quyền và người dân thôn Triều Khúc, phát tâm xây dựng lại chùa. Năm 1938, ngôi chùa được hoàn thiện theo phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Từ đó, chùa đã lấy chữ “Hương” của “Hương Chản tự” và chữ “Vân” của “Vân Mộng tự” thành “Hương Vân tự” cho đến ngày nay.
Do ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên, của hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cùng với bao biến cố thăng trầm lịch sử, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, hai dãy nhà Hữu vu và Tả vu bị xuống cấp nghiêm trọng. Năm 2011, chùa được tu bổ, tôn tạo các hạng mục bị xuống cấp đến năm sau thì hoàn thành.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Triều Khúc được xây dựng theo trục trung tâm quay về hướng Nam, về tổng thể, chùa có kết cấu theo kiểu kiến trúc hai mái, tường hồi bít đốc. Chùa được lợp bằng ngói mũi hài. Các thành phần kết cấu gỗ dùng để đỡ mái làm theo kiểu chồng rường cột chống.
Kiến trúc gồm Tam Quan, Thượng Điện, Tả – Hữu Vu, Nhà Tổ, Nhà Mẫu và một số công trình phụ trợ.
Tam Quan được xây theo kiểu hai tầng tám mái, gác giả, tầng dưới cùng là ba cửa vòm có chạm khắc. Hai hồi xây hai trụ biểu kiểu lồng đèn, đỉnh đắp nổi Tứ Phượng, phần mái thượng trang trí hình rồng lá cách điệu. Đỉnh trên cùng mái Tam Quan là hình ảnh lưỡng long chầu nhật, không chỉ mang ý nghĩa về sự xua đuổi tà ma mà còn trở thành họa tiết trung tâm, mang tư tưởng tam giáo đồng nguyên.
Qua cổng Tam Quan là một khoảng sân lát gạch đỏ. Tiếp đến, tòa Tam bảo và Thượng Điện là chùa chính, năm gian được xây dựng trên cơ sở nền tảng kiến trúc cổ, kết cấu kiểu chữ Đinh.
Tiền Đường là một tòa nhà lớn năm gian được làm theo kiểu tường xây, hồi bít đốc, tay ngai, mái lợp ngói ri, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, ở chính giữa nóc mái là hình cuốn thư đắp nổi. Bên trong bộ khung nhà làm theo kiểu chồng rường cột chốn bằng gỗ lim vững chắc. Đề tài chạm khắc trong Tiền Đường khá quen thuộc, thường gặp trong các di tích như: tứ linh, rồng mây, hoa lá,…với các nét chạm mềm mại tạo cho kiến trúc gỗ vẻ thanh thoát mang đậm nét phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Các bệ thờ được xây sát tường hậu, hai gian bên đặt tượng Khuyến Thiện và Trừng Ác, hai gian hồi đặt tượng Đức Ông, Thánh Tăng.
Thượng Điện gồm năm gian được nối liền từ gian giữa của Tiền Đường vào phía sau. Bộ khung đỡ mái được làm theo kiểu chồng rường giá chiêng, xà nách dạng bào trơn, soi gờ chỉ tạo độ bền chắc cho kiến trúc. Gian giữa Thượng Điện đặt 5 lớp tượng gồm:
- Lớp cao nhất là bộ Tam Thế Thường Trụ Diệu Pháp Thân;
- Lớp thứ hai là bộ Di Đà Tam Tôn gồm: pho tượng lớn A Di Đà ngồi giữa, đứng hai bên là tượng Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát;
- Lớp thứ ba là pho tượng lớn Phật Thích Ca Thuyết Pháp (hay còn gọi là Phật Niêm Hoa) hai bên là hai vị Bồ Tát;
- Lớp thứ tư là tượng Di Lặc;
- Lớp thứ năm là tượng Ngọc Hoàng ngồi giữa, hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu, phía trước là tòa Cửu Long ở giữa đặt tượng Thích Ca Sơ Sinh.
Hồi bên phải đặt ban thờ Quán Âm Thị Kính, hồi bên trái đặt ban thờ Quán Âm Chuẩn Đề.
Sau khu chùa chính là Nhà Tổ. Đó là toà nhà năm gian, cũng xây dựng theo kiểu hai mái bít đốc, có vì kèo bằng gỗ, sử dụng những yếu tố trang trí đơn giản. Các mảng gỗ được bào trơn, làm bằng gỗ hương, gỗ mít,… Trong nhà, sát tường hậu xây các bệ cao, ban giữa thờ Đạt Ma sư tổ, hai bên là thờ các vị sư tổ từng trụ trì ở chùa. Bên hồi gian ngoài thờ Phật Thích Ca.
Bên phải chùa chính là một tòa bảy gian, các bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu thượng chồng rường con nhị, hạ kẻ. Trong đó, ba gian đầu là thờ Mẫu (có chuôi vồ nhỏ phía sau), ba gian tiếp theo là phòng khách và một gian trụ trì.
Ngoài các công trình kiến trúc chính trên, “chùa còn có hai ngôi nhà thờ Tam Thanh và thờ ông Tổ nghề kim hoàn, hai nhà này nằm bên phải và bên trái Tam Bảo.”[1]
Hiện vật
Hiện nay, chùa còn lưu giữ 52 pho tượng tròn được tạo tác rất công phu, một số pho mang phong cách nghệ thuật thời Lê (thế kỷ XVIII) như tượng Tam Thế, A Di Đà; các bức cửa võng gỗ chạm nghệ thuật thế kỷ XIX và hoành phi, câu đối, hương án, cuốn thư, bát hương, chuông đồng,… thời Nguyễn.
Xếp hạng
Chùa được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1993.
Chú thích
[1] Nguyễn Thế Long – Phạm Mai Hùng, Chùa Hà Nội, Nxb Văn hoá – Thông tin, 2005, tr. 268.
Tham khảo
1. “Chùa Triều Khúc”, Cổng thông tin điện tử huyện Thanh Trì, ngày 10/2/2017.
2. Nguyễn Thế Long – Phạm Mai Hùng (2005), Chùa Hà Nội, Nxb Văn hoá – Thông tin.
3. https://www.vietnamplus.vn/chua-trieu-khuc-mang-net-dep-vua-thanh-tinh-vua-sang-trong-post869063.vnp