Tên và vị trí địa lý
Chùa thôn Thượng tên chữ là Dương Quang tự (陽光寺) , thuộc thôn Thượng, xã Dương Hà, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
Dương Hà là một xã thuộc huyện Gia Lâm, phía Bắc gần xã Đình Xuyên và Yên Viên, phía Đông giáp xã Giang Biên và Hội Xá. Xã gồm có 3 xã: thôn Trung, thôn Hạ, thôn Thượng. Xưa kia có tên cũ là xã Hạ Dương, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, năm 1961 Gia Lâm được tách ra và sát nhập về Hà Nội.
Chùa thôn Thượng nằm vùng ngoại ô, cách trung tâm thành phố Hà Nội 15km, để di chuyển đến chùa có thể đi qua nhiều đường khác nhau, đường dễ di chuyển nhất là từ trung tâm Hồ Gươm đi đến cầu Chương Dương, qua đường Nguyễn Văn Cừ, qua Ngô Gia Tự, qua cầu Đuống rẽ phải theo hướng đi đường đê của sông Đuống, Phù Đổng, khoảng 4-5km là đến xã Dương Hà, rẽ tay trái xuống dưới chân đê đi thôn Thượng, thêm 1 đoạn là đến chùa.
Trụ trì chùa thôn Thượng trước kia là Thích Đàm lan, sau đó bổ nhiệm cho thầy Thích Minh Đức là cháu ruột của Hoà thượng Thích Thanh Nhiễu lên làm trụ trì từ năm 2009 đến nay.
Lịch sử
Trước đây, xã Dương Hà thuộc tổng Hạ Dương, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nằm cách vùng đất Luy Lâu không xa, nên đã có những ảnh hưởng Phật Giáo từ Ấn Độ đã truyền bá sang ta trên đất quận Giao Chỉ thời thuộc Hán, nên ngôi chùa được xây dựng từ rất sớm.
Tài liệu duy nhất để làm căn cứ xác định niên đại khởi dựng ngôi chùa là hệ thống văn bia hiện còn lưu giữ tại chùa, thông qua các nội dung trong bia thì thời gian xây dựng chùa là vào thời Lê Trung Hưng thế kỷ XVII.
Tấm bia “Bia trùng tu Dương Quang tự hậu phật bia ký” dựng ngày lành tháng 12 năm Chính Hòa thứ 18 (1679) ghi việc chùa Dương Quang được trùng tu, mở rộng hai dãy nhà thiêu hương và thượng điện để làm nơi thờ phụng.
Theo thông tin từ tấm bia “Nhất hưng công đức tân báo bị ký Vĩnh Thùy” dựng ngày 8 tháng 12 năm Chính Hòa thứ 18 ghi việc có ông Đỗ Tướng Công, Ngô Phúc Vạn và bà cụ Ngô Thị đã bỏ tiền của nhà ra mua gỗ lim và gạch ngói để làm một dãy nhà thiêu hương và tiền đường làm nơi thờ phụng, lại cúng ba sào ruộng ở các xứ đồng để làm ruộng oản giúp việc cúng dưỡng làm đẹp cảnh chùa.
Hai năm sau dân làng cùng với sư trụ trì chùa góp công, góp của tu sửa và hưng công làm ba pho tượng, lại ra sức phục dịch trồng các loại cây cối trong chùa. Để ghi lại sự kiện này tấm bia Vĩnh Truyền bia ký được dựng ngày 19 tháng 10 năm Chính Hòa thứ 20 (1699) nhằm chép lại nội dung về việc tu sửa này.
Qua nhiều năm chùa Thôn Thượng còn được trùng tu, sửa chữa nhiều lần, mỗi lần trùng tu, sửa chữa, đều được ghi lại trên tấm bia hậu để lưu truyền, cho đến hiện tại kiến trúc ngôi chùa mang dấu ấn của lần tu sửa thời Nguyễn.
Kiến trúc
Chùa thôn Thượng là một di tích văn hóa lịch sử, gắn bó mật thiết với cộng đồng dân cư làng xã truyền thống được tạo dựng trên một khu đất rộng, thoáng mát nằm trên trục đường đi lại của nhân dân, bên cạnh chùa là đình Thượng và các hộ dân sống xung quanh.
Chùa quay theo hướng Nam, các công trình kiến trúc nằm gọn trong một khuôn viên khép kín được bao bọc bởi các bức tường bao xung quanh ngôi chùa, mặt bằng tổng thể kiến trúc hiện còn gồm: tam quan, sân vườn, thiêu hương, nhà thờ tổ, nhà mẫu, nhà khách, nhà bếp, nhà tăng.
Đây là ngôi chùa với kiến trúc đơn sơ, mộc mạc, các kiến trúc đã cũ và có dấu hiệu xuống cấp cần được chú trọng và tu bổ.
Tam quan
Cổng cũ của chùa chính là được xây ở phía khu vực vườn cây bây giờ, hiện tại chùa có hai cổng, cổng chính được xây quay ra phía đình Thượng, cổng phụ quay ra trục đường đi lại của dân làng.
Cổng chính xây kiểu tam quan tứ trụ với 3 lối ra vào, cửa giữa lớn hơn hai cửa bên. dùng bốn trụ biểu, hai trụ giữa cao hơn hai trụ bên để chia thành ba lối đi.
Hai cột trụ giữa đắp câu đối bằng chữ Hán mực đen trên nền sơn trắng tạo chữ nổi bật, trên đỉnh trụ của hai bên đắp bốn chim phượng đuôi cong lên trời và chia ra tứ phía. Cửa ra vào uốn vòm cung, hai cửa đóng mở làm bằng gỗ sơn màu đỏ trầm, trán cổng là tấm trụ biểu ghi tên chữ Hán “陽光寺” dịch “Dương Quang tự” trên tấm trụ biểu là đắp hình mặt nhật. Nối giữa hai cột trụ biểu là tấm biển quảng cáo màu đỏ có ghi tên chùa và địa chỉ của chùa, với ý nghĩa mừng xuân An Lạc 2023.
Đặc biệt của cổng chùa thôn Thượng chính là hai bên cổng phụ của cổng tam quan được làm giả, xây kín bằng gạch, vẽ giả hình cánh cổng. Trên đỉnh hai cột trụ biểu của hai bên cổng đều được gắn nổi hình bông hoa sen.
Sân chùa
Từ cổng hướng thẳng vào là con đường được lát gạch, nối từ cổng vào phía sân trước các tòa Mẫu, nhà Tổ, đường lát gạch ở giữa, bên trái và bên phải của con đường này là hai bên khoảng sân chùa.
Nằm bên trái của con đường lát gạch là khoảng sân rộng, lát xi măng, được đặt nhiều chậu cây cảnh trang trí, đây là khoảng sân hướng đi ra cổng phụ khác của chùa.
Cổng phụ của chùa được quay ra hướng trục đường đi lại của dân làng, cổng phụ đơn giản với sự kết hợp của hai cột trụ bằng gạch, xây vuông 4 mặt, cửa đóng mở gồm 4 cánh, mỗi bên 2 cánh, sơn đỏ trầm, cổng phụ không có mái che.
Nằm bên phải của con đường lát gạch, ở bên phải từ cổng tam quan đi vào là sẽ thấy có một khoảng sân nhỏ, lát xi măng, đây là con đường dẫn ra công trình phụ và khoảng sân vườn trồng cây.
Tiếp đến là khoảng sân được lát gạch, được ngăn cách với đường dẫn ra công trình phụ là hàng bờ rào trát xi măng. Trong khoảng sân gạch này được đặt hai lầu tháp và một tượng Phật Di Lặc đứng trên đài sen đế bát giác.
Tượng Di Lặc
Trên nền gạch được xây đế hình bát giác, rỗng ở giữa, đế bát giác được đắp bằng gạch đá hoa màu xám, bên trong đế có xây một khối hình vuông đặt ở chính giữa cao khoảng 90cm.
Bên trên khối vuông là đài sen 3 lớp cánh, tiếp đó là tượng Di Lặc, với dáng đứng thẳng, một tay gấp lên thành bụng, một tay cầm gậy như ý, khuôn mặt hiền từ, phúc hậu, ráy tai chảy dài, cổ đeo vòng tràng hạt, tượng khoác áo choàng, lộ bụng, toàn thân sơn màu trắng.
Tượng Phật Di Lặc mang nhiều ý nghĩa tốt trong phong thuỷ, mang đậm ý nghĩa về sự an lạc, may mắn, vui vẻ và hạnh phúc, đem lại sự tâm linh cho ngôi chùa.
Phía trước tượng có một khối trụ hình chữ nhật cao 50cm, mặt khối có lát gạch đá hoa, đây là hương án thờ của tượng Phật Di Lặc, bên trên có đặt lư hương bằng gốm xanh.
Hai bên hương án có đặt hai trụ đúc bằng xi măng cao 20cm, mỗi bên có đặt một chậu hoa cảnh.
Lầu tháp (lầu Cậu, lầu Cô)
Qua tượng Phật Di Lặc có 2 bậc cầu thang để bước xuống nền sân phía trước toà Mẫu, nền sân này thấp hơn nền sân nơi đặt tượng Di Lặc, là hai lầu Cô, lầu Cậu được đặt hai bên đối xứng và quay mặt vào nhau.
Lầu Cô và lầu Cậu có kiến trúc giống nhau đều có 3 tầng, diện tích nhỏ dần lên phía trên, phần đế, phần thân, phần đỉnh, tầng 1 là đế hình chữ nhật cao 70cm, để trơn không trang trí hoa văn, tầng 1 và tầng 2 ngăn cách nhau bởi các đường gờ nổi nhô ra rộng hơn kích thước của tầng 1.
Tầng 2 là phần chính, là khối hình vuông có diện tích nhỏ hơn tầng 1, có cửa ra vào, vòm uốn cung, bên trên có ghi tên (lầu cô hoặc lầu cậu) trong có đặt bát hương thờ và một tượng Cô, Cậu kích thước nhỏ. Hai bên mặt tường ở hai bên cửa giữa có trang trí hồi văn ở 4 góc. Trên tầng 2 được làm mái giả xi măng, có những đường đắp nổi dọc thân mái, 4 đầu đao mái uốn cong lên.
Tầng 3 có diện tích nhỏ nhất, được xây kín thành khối vuông nhỏ, có mái giả xi măng, 4 đầu đao là đắp nổi hình lá uốn cong cụp vào trong.
Xung quanh khoảng sân đều có có các cây và chậu hoa trang trí như: cây cau, chậu quất…
Toà thờ Mẫu
Từ hai lầu Cô, lầu Cậu cách với nhà Mẫu bởi khoảng sân lát gạch khoảng hơn 4m, phía trước hiên nhà thờ Mẫu, có đặt lư hương lớn, 4 chân trụ, mỗi chân được đắp nổi khuôn mặt hổ phù, hai quai lư hương được đắp cách điệu, thân lư hương có trang trí hoa văn cầu kỳ, chính giữa là hình âm dương xung quanh là những đốm lửa. Hai bên lư hương là hai chậu cây cảnh, ở mỗi gian phía trước hiên nhà cũng đều đặt các chậu cây cảnh trang trí.
Phần hiên nhà rộng khoảng 1m, được chống đỡ bằng 5 cột xi măng. Nền nhà Mẫu cao hơn nền sân 10cm, nhà Mẫu được nằm chính giữa, quay mặt ra ngoài cổng tam quan, với kiến trúc 5 gian, với 5 cửa ra vào, đặc biệt có 4 gian để thờ, 1 gian đầu đốc bên phải được làm phòng tiếp khách và nơi làm việc của trụ trì.
Bên trong nhà mẫu các gian bên trong được xây thành bậc cao 20cm so với nền nhà, làm nơi đặt tượng thờ, lát gạch đá hoa, các phần bậc cao này là nơi thờ Mẫu. Các gian được ngăn cách bởi những cột gỗ. Bộ khung nhà bằng gỗ có bốn vì làm kiểu “chồng rường”, hai vì hồi làm kiểu “cốn chống”, trên mặt các con rường trang trí chạm nổi đậm đặc các họa tiết văn hoa lá cách điệu.
Gian giữa được đặt long ngai nhỏ sơn thếp vàng và được che bởi một tấm vải đỏ, hai bên là hai hình hộp thuỷ tinh chữ nhật đứng, bên trong là tượng cô, tượng cậu, bày cùng đồ cúng như chuông, mõ.
Phía đằng sau long ngai, có xây bệ cao 50cm, trang trí hoa văn, rồng mây, bên trên được bày các đồ thờ cúng, và gồm các tượng thờ mẫu, bên trên có rèm y môn thêu hoạ tiết.
Gian bên phải toà Mẫu là gian thờ động sơn trang được đặt trên bệ cao 40cm, đắp vẽ cảnh núi rừng cùng cỏ cây, bên trên có các đồ thờ cúng.
Gian bên trái là gian thờ Đức Ông, ban thờ cũng được đặt trên bệ cao, và có rèm thờ che ở phía trên.
Mái nhà lợp ngói mũi hài, toàn bộ kiến trúc toà Mẫu đơn sơ và không trang trí hoa văn.
Nhà thờ Tổ
Nằm bên tay phải toà thờ Mẫu, là nhà thờ Tổ, nhà gồm ba gian xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, đây là tòa nhà được đặt trên nền cao nhất trong các toà, từ sân phải bước qua 4 bậc thang lên xuống, nền nhà lát gạch đỏ 20cm x 20cm, mái lợp ngói ta.
Hiên nhà rộng khoảng hơn 1m, với hai cột đỡ ở gian giữa, ở phần hiên các gian có lắp rèm che nắng bằng che, trúc. Ba cửa ra vào đều lắp cửa gỗ hai cánh, gian giữa là gian thờ Tổ, trên ban thờ được đặt trên bệ cao, bày biện các đồ thờ cúng, trên đặt bốn pho tượng tổ.
Nhà Oản
Nằm bên tay trái của tòa Mẫu, là nhà Oản 3 gian, nền nhà cao hơn sân chùa 15cm, lát nền gạch, hiên nhà chống đỡ bởi hai cột, bên trong nhà là nơi để các đồ đạc vật dụng như: củi, bát đĩa, và là nơi nghỉ ngơi cho các phật tử khi đến với chùa. Mái nhà được lợp tấm Fibro xi măng.
Nhà Bếp
Đây là dãy nhà hai gian nhỏ, được nằm liền kề cùng với nhà Oản, với hai cửa ra vào, dãy nhà bếp này có diện tích nhỏ nhất trong các toà khác, đây là dãy nhà bếp phục vụ cho việc nấu nướng cho chùa.
Toà bếp không có hiên nhà, bên trong nhà lát gạch, mái được lợp ngói đỏ.
Nhà Tăng
Đây là dãy nhà được nằm bên tay trái của toà thờ Mẫu, nhưng vị trí được lùi về phía đằng sau nhà Mẫu, phía trước có một sân nhỏ, lát gạch, nhà 2 gian nhỏ đặt trên nền cao khoảng 50cm so với nền sân, có bậc thang lên xuống.
Nhà Tăng là nơi nghỉ ngơi dành cho các sư trụ trì của các chùa đến với chùa thôn Thượng.
Nhà Khách
Nhà khách được nằm liền kề cùng dãy với nhà thờ Tổ, nhưng nền nhà nằm thấp hơn, toà này không làm cửa ra vào và không xây đầu hồi bít đốc, mái được lợp mái tôn, đây là nơi để bàn ghế uống nước, nghỉ ngơi cho khách đến tham quan ngôi chùa.
Tam Bảo
Nối từ dãy nhà khách nối với gian giữa Tam bảo, có làm cửa ra vào, dây là cửa ra vào phụ có thể đi từ nhà khách lên Tam bảo. Nhà thiêu hương, hai bên khoảng cách giữa xà thượng và xà hạ đặt hai ô trang trí để tài tứ quý.
Đường chính là nằm bên tay trái của nhà khách, có con đường dẫn tới sân trước toà tam bảo, đây là nơi có sân vườn và kiến trúc toà nhà rộng lớn nhất trong các toà, kiến trúc hình chữ Đinh.
Khoảng sân rộng, lát gạch đỏ, ở sân phía trước Tam bảo có đặt một lư hương lớn, rộng hơn 1m, hình chữ nhật, có bốn chân trụ và hai quai cầm, được trang trí hình nổi rồng chầu nhật, các dãy hoa sen, vân mây, mặt hổ phù…
Tam bảo là một dãy nhà ngang năm gian hai đĩ rộng, nền nhà cao hơn so với mặt sân 30cm, lát gạch Bát Tràng 30cm x 30cm, xây gạch kiểu tường hồi bít đốc, tay ngai, mái lợp ngói ta, giữa bờ nóc đắp hình đại tự, giữa có hình mặt trời, phía trước hai hiên hồi xây một khoảng tường 1,2m.
Ngoài cùng xây hai trụ biểu vuông kiểu lồng đèn, hai mặt thân trụ khắc câu đối bằng chữ Hán cổ, đỉnh trụ đắp mặt hổ phù, ô lồng đèn trang trí tứ long (long, ly, quy, phượng).
Nhà có hiên rộng, ứng với năm khoảng hoành, đỡ mái là hệ thống vì cong ăn mộng cột hiên, thân kẻ chạm nổi văn sóng nước, rồng. Mặt trước mở hệ thống cửa bức bàn. Bộ khung nhà gồm sáu bộ vì làm kiểu “chồng rường giá chiêng”, ba hàng chân, hai vì giữa có đầu rồng đỡ câu đầu, vì nách bốn gian giữa làm kiểu chồng rường, hai vì nách hai bên thân rường chạm nổi văn thực vật. Lòng nhà xây bệ gạch cao dần từ ngoài vào làm nơi bài trí hệ thống tượng phật.
Từ ngoài bước vào Tam bảo, gian đầu hồi bên tay trái là nơi đặt ban thờ Địa Tạng, tiếp gian bên cạnh thờ Đức Thánh Hiền, tiếp là tượng Khuyến Thiện.
Gian Giữa là gian quan trọng nhất của tòa Tam bảo, gồm nhiều pho tượng Phật đặt ở các bệ xây vị trí từ thấp đến cao. Trên mái đỡ, giữa hai cột cái hai bên ở hàng thứ nhất có gắn tấm trụ biểu ghi chữ Hán “甘露門 ” dịch cam lộ môn, nghĩa là cửa cam lộ, ở tấm trụ biểu hàng dưới có chữ “王中人天” dịch “thiên nhân trung vương”: nghĩa là vua của cõi trời và người.
Vị trí trang trọng nhất là ba pho tượng Tam Thế (thường trụ diệu pháp thân).
Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam Tôn, Đức A-di-đà ngồi giữa, hai bên là hai vị bồ tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí.
Tượng A-di-đà ngồi trên tòa sen ba lớp cánh, tóc bụt ốc chín lớp, giữa đỉnh nổi khối nhục kháo, mặt trái xoan, trán rộng, mày cong, mắt khép hờ, mũi dọc dừa, đôi tai chảy dài ngang cằm, cổ ba ngắn, ngực hở lộ rõ chữ vạn, vẻ mặt hiền từ phúc hậu, ngồi ở tư thế thiền định.
Tượng Quan Âm Nam Hải ngồi trên tòa sen ba lớp, các cánh sen to, mập. Đầu tượng đội mũ tỳ lư, mắt khép hờ, mũi dọc dừa, mặt trái xoan, đôi tai chảy dài ngang cằm, cổ cao ba ngấn, mặc áo cà sa phủ khăn thơm, ngực để hở, hai tay kết ấn trước ngực, mỗi bên sườn lại có thêm 10 tay phụ.
Lớp thứ ba là tượng Quan Âm chuẩn để, hai bên là Văn Thù và Phổ Hiền
Lớp thứ tư là tượng Di Lặc ngồi giữa, hai bên là Pháp Hoa Lâm và Đại Diệu Trường. Tượng Di Lặc ngồi trên tòa sen ba lớp, các cánh sen mập, giữa các cánh sen chạm nổi, cúc mãn khai. Tượng ngồi trên tư thế thoải mái nét mặt tươi cười hoan hỉ. Toàn bộ các pho tượng và bệ sen được phủ sơn son thếp vàng lộng lẫy mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX. Các pho tượng được tạo tác công phu, tỷ mỷ. Đây là những tiêu bản quý giá góp phần tìm hiểu nghệ thuật tạc tượng, đúc tượng trong lịch sử dân tộc.
Lớp thứ năm, ở giữa là tòa Cửu Long, hai bên là tượng Phạm Thiên, Đế Thích.
Gian bên phải xây ban thờ Đức Ông – Đức Thánh Tăng và pho tượng Trừng Ác.
Các cột cái trong tòa Tam bảo đều được vẽ hình rồng uốn lượn chạy dọc thân cột tạo không gian linh thiêng cho ngôi chùa.
Tượng Phật Quan Âm Bồ tát
Tượng Bồ tát được đặt ở vị trí ngoài sân trước tòa Tam bảo, mặt tượng được quay ra hướng vườn cây phía trước, lưng quay về tòa Tam bảo.
Dáng tượng đứng thẳng trên đài sen, đài sen gồm hai phần, một phần đài sen ngửa lên và đặt trên một đài sen úp ngược, được đặt trên một kệ hình vuông có chiều cao 60cm, được trát bằng xi măng, bên trên có đặt bát hương và đèn nến.
Tượng khoác áo choàng, khuôn mặt hiền từ, mỉm cười nhẹ, một tay giơ lên giữ ấn, một tay cầm bình cam lồ hướng đổ xuống đất.
Hai bên trái, phải tượng Bồ tát được trang trí bằng hai chậu cây cảnh.
Nhà Bia
Nằm ở vị trí trong sân, phía bên tay phải của tòa Tam bảo, dãy nhà bia có chiều dài 6m, rộng 2m, bên trong gồm 22 bia kích thước lớn nhỏ và hình dáng khác nhau xếp thành hàng có niên đại tạo dựng trải dài từ thời Lê, Tây Sơn đến Nguyễn.
Các hàng bia cũng được phân chia, hàng bên tay phải gồm 3 bia đặt liền nhau trên chung một đế, hàng bên tay trái có 3 bia đặt liền nhau chung một đế, ở giữa gồm hai hàng bia.
Trong đó có :
– 02 bia niên hiệu Chính Hoà 18 (1697)
– 01 bia niên hiệu Chính Hoà 20 (1699)
– 01 bia có niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 5 (1704). Nội dung bia ca ngợi những người có công đức tiễn của tu sửa chùa.
– 01 bia có niên hiệu Bảo Thái thứ 5 (1709).
– 01 bia có niên hiệu Long Đức thứ 2
Số còn lại là bia không có tên và bia không ghi niên hiệu.
Trong nhà bia có một tấm bia lớn ghi danh sách các gia đình tập thể công đức vào chùa.
Phần mái nhà bia được lợp mái tôn đỏ.
Toà Tháp
Tại vị trí vườn cây ở phía trước tòa Tam bảo, hiện tại có 3 toà tháp đặt ở 3 góc khác nhau trong vườn. Trong khu vườn được trồng rất nhiều loại cây khác nhau, có cả cây ăn quả và cây lâu năm.
Ở vị trí chính giữa vườn, đối diện với tượng Bồ tát, tại vị trí này ngày xưa là cổng cũ của chùa, hiện tại là vườn trồng cây. Tại đây có một toà tháp đã cũ, được trát xi măng, tháp này cao 1,5m, hình vuông có 4 mặt, ở mỗi mặt có tạo một ô chữ nhật kéo dài nằm chính giữa. Phần đỉnh tháp là dạng kim tự tháp, nhọn dần ở phía trên, hiện tại phần đỉnh tháp này được phủ kín bởi cây cỏ leo.
Nằm ở góc vườn giáp với lưng toà nhà khách và toà thờ Tổ, đây là tháp thứ hai có cấu trúc 4 tầng, 4 mặt, trát xi măng, các tầng có diện tích nhỏ dần từ dưới lên, mỗi tầng được ngăn cách bởi các đường gờ nổi nhô ra. Ở các mặt của tầng 2 và tầng 3 đều có viết chữ Hán nhưng hiện tại đã bị mất nét và mờ không đọc được chữ, tầng 4 là phần đỉnh tháp, được gắn trụ hình vuông trang trí cách điệu, phía trên cùng là gắn hình búp sen.
Tháp thứ ba là tháp ở vị trí phía bên tay phải của tháp ở giữa, cách nhau khoảng 5m, giáp với bờ tường bao của chùa. Toà này cũng có 4 tầng giống như tháp thứ hai, nhưng không được trát xi măng mà để gạch trần. Ở tầng thứ hai mặt đầu tiên được trổ ô vuông, bên trong có đặt tượng bồ tát rất nhỏ chỉ cao khoảng gang tay người lớn. Trên đỉnh tháp là một trụ hình vuông trang trí dày kín các hoạ tiết.
Di vật
- Trải qua thời gian chùa thôn Thượng bảo lưu được khối lượng đi vật mang giá trị cao bao gồm một chuông đồng niên đại Quang Trung bát niên (1800), hiện tại đang được treo bên trong tòa Tam bảo.
Chuông có đường kính miệng 60cm, cao 120cm gồm: miệng chuông, thân chuông, đỉnh chuông, đỉnh chuông có quai chuông hình rồng, thân chuông được chia thành hai phần, được ngăn cách bởi đai chuông chạy vòng quanh chuông, gân nổi to và kết thúc bởi hình tròn to ở giữa, quanh vòng tròn lại có các hạt tròn đính xung quanh. Phần trên chia thành bốn ô vuông ở các mặt và kẻ các đường gờ nổi chạy xung quanh, phần dưới cũng chia thành các ô vuông có diện tích nhỏ hơn.
Miệng chuông loe rộng tạo bởi hai lớp, các lớp loe rộng dần.
- Một pho tượng Thích Ca bằng đồng, bốn bát hương đồng.
- Một hương án gỗ dài 150cm x 130cm x 100cm, có trang trí chạm nổi, chạm thủng, chạm bong kênh các hình rồng, cánh sen, văn triện, hoa văn hình học, bốn chân làm kiểu chân quỳ, chạm rồng, diễm dưới trang trí chạm nổi các hình vân mây đao mác xoắn, điểm trên cùng trang trí hoa văn cánh sen mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII.
- 3 bức hoành phi sơn son thiếp vàng
- 1 đôi câu đối gỗ.
- 7 chân nến gỗ sơn son
- 6 mâm bồng gỗ sơn sơn
- 2 bức tranh gỗ sơn sơn trang trí tứ quý
- 24 pho tượng phật (Nghệ thuật TK XVIII – XIX).
- 1 tòa Cửu Long thếp vàng thế kỷ XIX
- 4 pho tượng tổ và nhiều pho tượng mẫu trong đó có hai động sơn trang cùng nhiều đồ thờ tự khác.
- 22 tấm bia đá được đặt trong nhà bia, hai cây hương đá
Tất cả những di vậy được lưu giữ tại chùa đều là những tài liệu lịch sử, văn hoá, khoa học quý có giá trị cao, mang lại yếu tố truyền lại qua các thế hệ, khẳng định được nền lịch sử của nước ta.
Xếp hạng
Chùa thôn Thượng đã được UBND thành phố ra quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh thành phố, di tích Kiến trúc – Nghệ thuật năm 2004.
Tài liệu tham khảo
- Di tích lịch sử văn hóa cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm 2010.
- Hồ sơ di tích chùa Dương Quang, chùa Dương Quang.