Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Đông Dư Hạ, tên chữ là Phù Quang tự. Chùa nằm bên bờ sông Hồng, thuộc thôn Đông Dư Hạ, xã Đông Dư, huyện Gia Lâm, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 10km.
Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì tên gọi Đông Dư đã có vào cuối thời Tiền Lê (981 – 1009). Trước năm 1945, Đông Dư Hạ cùng với Đông Dư Thượng và Thuận Phú là các làng cổ của Đông Dư.
Lược sử
Đông Dư là vùng đất được định cư và có nền văn hóa lâu đời. Cùng với sự phát triển của con người, các làng cổ với những mái đình, ngôi chùa cũng được dựng lên nhằm phục vụ sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thờ cúng của nhân dân địa phương. Hiện nay, chưa tìm được cứ liệu xác định niên đại xây dựng chùa Đông Dư Hạ nhưng chắc hẳn đã có từ lâu đời.
Theo dòng lịch sử, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Đông Dư Hạ là nơi các chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật và Việt Minh nằm vùng. Nhân dân địa phương và các nhà tu hành trụ trì tại chùa đã tích cực góp công, góp của và sức lực hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến” của Hồ Chủ tịch.
Chùa Đông Dư Hạ đã trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, đắp tượng, đúc chuông. Năm 2005 xây cổng Tam quan, trùng tu sân, Nhà Tổ, tường bao…
Kiến trúc
Chùa được xây dựng bên cạnh đình Đông Dư Hạ trên mặt khu đất rộng 4.000m2 tách biệt gọn gàng bởi tường bao xung quanh. Chùa gồm gồm Tam Quan, Chính Điện, Nhà Mẫu, Nhà Tổ, nhà khách và phòng tăng, sân vườn chùa.
Tam Quan chùa xây kiểu cửa vòm, cửa giữa rộng hơn hai cửa bên, được làm theo dạng hai tầng mái lợp ngói giả ống. Trán cổng đắp nổi 3 chữ Hán: “Phù Quang tự”. Nóc mái trên cùng có gắn biểu tượng bánh xe pháp luân.
Ngay sau Tam Quan là Lầu lục giác thờ Quán Âm Thiên Thủ Thiên nhãn. Lầu có kết cấu dạng cột như chùa Một Cột, mỗi mặt lầu được trang trí bằng một bức tranh hoa sen.
Từ Tam Quan rẽ sang bên trái, là Chính điện có dạng chữ đinh gồm Tiền Đường và Thượng Điện. Chính điện có mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, bờ dải kiểu bậc thang, sát hiên là hai trụ biểu cao 5m.
Tiền Đường gồm năm gian, có bốn bộ vì kết cấu kiểu “giá chiêng”, mái phần thượng tứ, hạ ngũ được bào trơn. Hiên chùa rộng 1m có sáu đầu bẩy được trang trí chữ thọ, rồng, hoa lá. Phía trên nóc các gian của Tiền Đường đều treo các bức y môn được trang trí mẫu hoa, lá, tứ quý và treo các bức đại tự. Tại Tiền Đường thờ Đức Ông, Đức Thánh Hiền, Bồ Tát Địa Tạng và hai vị Hộ pháp Khuyến Thiện, Trừng Ác; Quan Âm Tọa Sơn; Quan Âm Tống Tử.
Thượng Điện gồm ba gian chạy dọc với bốn bộ vì làm kiểu giá chiêng. Từ Tiền Đường vào Phật điện chúng ta gặp bức cửa võng, trên trang trí và trạm trổ hình dơi ngậm chữ thọ, vân mây. Hai bộ vì nách Thượng Điện có hai bức ván mê được trang trí vân mây. Đây là những tác phẩm nghệ thuật đáng lưu ý, làm tăng thêm giá trị của di tích.
Phía dưới bức cửa võng đặt một hương án cao chừng 1m được chạm trổ và trang trí vân mây theo mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX (thời Nguyễn). Trên hương án đặt đôi lộc bình, một bát hương gốm. Sát hai bên là các đôi câu đối, nội dung ca ngợi công đức của phật và cảnh quan ngôi chùa như:
Phạm vũ ỷ quan đê, chiêm vọng chi, cổ thụ bài thanh hà lưu dũng bích
Danh lam bàng thần miếu, quy y giả từ vân ấm diệp pháp vũ phi hoa.
Tạm dịch:
Chùa Phật dựa đê sông, ngước nhìn cổ thụ tốt tươi dòng sông xanh biếc
Danh lam, kề miếu thần, người đến quy nạp bóng mây lành, mưa móc bay hoa.
Tượng phật tại tòa Thượng Điện được bố trí thành 4 hàng:
Hàng thứ nhất trên cùng là bộ tượng Tam Thế. Bộ tượng này không lớn lắm, từ đỉnh đến phần ngồi chỉ cao khoảng 80cm và chia làm ba phần: phần bệ, đài sen và thân tượng được sơn son thếp vàng. Có thể nói, đây là bộ tượng đẹp nhất của chùa. Bộ tượng Tam Thế là tượng trưng cho chư Phật thuộc về ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai, được làm vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Tượng mặc áo cà sa, ngồi xếp bằng, lộ bàn chân phải trên đài sen, tay kết ấn thiền định. Tượng mang nhiều tướng quý, tóc bụt ốc, mắt nhìn xuống để soi rọi nội tâm. Phần đài sen với những cánh sen mũi hơi tròn, mập mạp, phần đế sen gồm ba cấp.
Hàng thứ hai là tượng A Di Đà cao 1 m cả bệ, ngực có chữ “vạn”, tượng mặc áo cà sa, tóc bụt ốc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Hàng thứ ba là tượng Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn.
Hàng thứ tư là bộ tượng Cửu long, Thích Ca sơ sinh đứng trên đài sen tay trái chỉ thẳng lên trời, tay phải chỉ xuống đất.
Từ Chính điện, ra sân chùa, chếch về bên tay phải là Nhà Tổ. Tòa nhà này được xây theo lối kiến trúc hiện đại, gồm hai tầng, hai bên có cầu thang riêng chụm về giữa dẫn lên tầng 2 thờ Tổ. Tầng 1 là phòng khách. Tầng 2 gồm ba gian, kết cấu “vì giá chiêng” trang trí hoa văn thực vật và mở ba cửa chính kiểu “thượng song hạ bản”. Gian giữa thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma và Tổ Tăng; gian trái thờ Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn; gian phải thờ Tổ Ni.
Từ Nhà Tổ, qua một khoảng sân rộng là Nhà Mẫu. Theo truyền thống, gian giữa là ban thờ Công đồng Tứ Phủ với 5 hàng tượng gồm Tam Tòa Thánh Mẫu; Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu; Ngũ vị Tôn Ông; Tam Ông Hoàng và một số cô, cậu. Gian bên trái là ban Sơn Trang, bên phải là ban thờ Đức Thánh Trần.
Hiện vật
Trải qua năm tháng với nhiều biến động của lịch sử một số hiện vật ở chùa Đông Dư Hạ da bị mai một. Tuy nhiên được sự quan tâm của chính quyền địa phương và nhà sư trụ trì hiện nay chùa còn lưu giữ được số lượng hiện vật khá phong phú về thể loại, đa dạng về chất liệu gồm 20 pho tượng bằng gỗ mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, năm bức hoành phi, sáu đôi câu đối, hai cửa võng, một chuông đồng niên hiệu “Hoàng triều Tự Đức tam thập tứ niên”, một cây đèn đồng, một giá đựng ngũ quả bằng đồng, bốn đôi lộc bình, hai chóe lớn. Trong đó, bức hoành phi “Trần triều hiển thánh” tại đền mẫu có niên hiệu “Gia Long nhị niên xuân” (1803). Như vậy, chúng ta có thể phỏng đoán ngôi chùa được xây dựng vào thời Nguyễn.
Xếp hạng
Chùa Đông Dư Hạ được UBND thành phố Hà Nội ra quyết định xếp hạng di tích Lịch sử Nghệ thuật năm 2007.
Tham khảo
Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm (2010), Di tích lịch sử văn hóa cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, tài liệu lưu hành nội bộ.