Tên gọi và vị trí địa lý
Lăng Quận Mãn hay còn gọi là Sinh từ, nằm ở Làng Nhồi (Nhuệ thôn), xã An Hoạch, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, ngày nay là xã Đông Hưng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Từ xa xưa làng Nhồi nổi tiếng với nguồn đá quý và nghề chạm khắc đá truyền thống, ở đây còn nổi tiếng với một danh thắng nổi tiếng là núi Nhồi (Hòn Vọng Phu), trong bài thơ Vọng Phu thạch 望夫石 (Đá Vọng Phu) của Nguyễn Du đã viết:
Đá chăng? Người chăng? Là ai đấy nhỉ?
Đứng một mình trên ngọn núi hàng ngàn năm nay.
Muôn kiếp không bao giờ có mộng mây mưa,
Tấm thân giữ được trinh tiết mãi mãi.
Mưa thu như dòng lệ chảy không ngớt,
Lớp rêu như ghi lại một bài văn ca tụng nàng.
Nhìn bốn phía núi non từng từng lớp lớp,
Luân thường chỉ dành riêng cho bạn gái chăng?
Núi Nhồi là một danh thắng cảnh của vùng đất Thanh Hoá, nhà thơ Hiền Nguyễn đã sáng tác bài thơ “Anh có về Thanh Hóa với em không” nói về vẻ đẹp của núi Nhồi:
Anh có về Thanh Hóa với em không?
Ngắm núi Nhồi, hòn Vọng Phu hoá đá
Đêm trăng thanh nghe tiếng hò cấy lúa
Rừng Thông xưa xanh thắm cả khoảng trời
Lăng Quận Mãn nằm dưới chân của Núi Nhồi, đây là nơi sinh ra và là nơi thờ của Đô đốc Đại tư đồ Mãn Quận Công Lê Trung Nghĩa. Đây là một quần thể kiến trúc nghệ thuật điêu khắc đá độc đáo, quỵ mồ bề thế, được tạo dựng bằng tâm huyết của các nghệ nhân làng Nhồi thế kỷ XVIII, tương truyền, công trình kiến trúc được tạo tác từ đá núi Nhồi tạo nên một di sản quý giá của nền văn hoá việt.
Từ trung tâm thành phố Thanh Hoá cách Lăng Quận mãn 5km, di chuyển theo Ql 10, rẽ vào đại lộ Lê Lợi, sau đó rẽ trái vào đường Trịnh Huy Quang (QL 47), nằm ở phía tay phải chính là Lăng Quận Mãn.
Quận Mãn (Quận công Lê Trung Nghĩa)
Quận Mãn tên tự là Lê Trung Nghĩa, họ gốc Nguyễn, ông sinh ra tại làng quê thôn Nhuệ, xã An Hoạch, tổng Quảng Chiếu, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Hiện chưa có tài liệu nói về năm sinh mà chỉ có ngày mất là 2 tháng 12 năm 1786 (năm cảnh hưng thứ 47).
Sách khâm định việt sử thông giám cương mục, trang 974 có viết: “Lê Trung Nghĩa: Hoạn quan, có một tên nữa là Mãn, người xã An Hoạch, huyện Đông Sơn”, Đông Sơn nay là thuộc tỉnh Thanh Hoá.
Ngay từ nhỏ ông đã rất thông minh, tài trí nhanh nhẹn, khi lớn lên ông có công lao rất lớn với việc giúp vua lãnh đạo quân dân Thanh Hóa chống lại quân Tây Sơn, lập nhiều chiến công giúp dân giúp nước, nên nhà vua ban Quốc tính và phong tước làm Quận công.
Văn bia tại lăng thờ ông có nội dung: “Quận Mãn tên tự là Lê Trung nghĩa, người thôn Nhuệ, xã An Hoạch, tổng Quảng Chiếu, huyện Đông Sơn, Ông vốn thuộc dòng họ Nguyễn, nhưng vì có nhiều công lao phò tá nhà Lê nên được đổi theo họ Vua. Ông sinh ngày 23 tháng 2 (chưa rõ năm), mất ngày 2 tháng 12 năm Cảnh Hưng thứ 47 (1786). Thuở nhỏ ông đã lỗi lạc có chí lớn, lớn lên ông phò nhà Lê, đương triều được đặc biệt tiến phong là bậc thượng tướng quân giúp nước, vâng mệnh trấn thủ xứ Kinh Bắc, chính chủ hiệu Lê Hậu dục kỳ kiêm quản nhất tựu đội trung quân, Đô đốc phủ tá Đô đốc Đại tư đồ Mãn trung hầu Lê tướng công… Ông là bậc tướng công tính tình thẳng thắn, lượng cả lớn lao, là bậc cựu thần cấm vệ… xử sự với xóm làng rất đều đặn, bình đẳng, không khác gì cùng thời áo vải khó khăn, nhân đạo với người thân, hoà mục với họ hàng, kính già, thương yêu trẻ, thấy người cùng khổ thì giúp đỡ, thấy người hoạn nạn, khó khăn thì cứu giúp… Công danh của ông ở nơi biên quận. Sự nghiệp của ông ở chốn triều đình. Đức nghiệp và công huân, danh tiếng truyền mãi muôn đời.”(1)
Nội dung trong văn bia được coi là bản vắn tắt cuộc đời sự nghiệp và con người của Quân Mãn, một viên quan dưới thời Lê Trung Hưng, được khắc vào bia đá để bảo tồn di vật lịch sử tại Lăng Quận Mãn.
Năm Chiêu Thống thứ 1 (1787) ông được truy phong Đại vương.
Lịch sử
Lăng Quận Mãn được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 43 (1782), tức Lăng được xây dựng vào 4 năm trước khi ông mất. Cuộc đời binh nghiệp của ông đã đánh đông dẹp bắc, lập nhiều chiến công oanh liệt, hào hùng, một lòng trung nghĩa, xả thân vì đất nước, được vua ban cho nhận chức Trấn thủ (tỉnh trưởng) xứ Kinh Bắc (vùng Bắc Ninh và Bắc Giang ngày nay), Đến thời chúa Trịnh Khải (tức Trịnh Tông), Lê Trung Nghĩa được bổ chức Trấn thủ xứ Thanh Hoa.
Vì dân làng biết ơn và ngưỡng mộ ông có công khai đất lập làng, dân làng An Hoạch đã tôn bầu ông làm Hậu thần xin ông để xây dựng “Sinh từ” và tôn ông làm Phúc Thần để dân làng thờ phụng. Sử liệu này được khắc vào bia hậu thần như sau: “… Các quan viên, hương sắc, quản giáp là Lê Đình Chiến, Nguyễn Hoành, Lại Xuân Chuỷ, Thị Kính binh (lính hầu kinh đô)… cùng các bậc trên dưới, binh lính, dân chúng… xin Ồng xây dựng Sinh từ,(2) tôn làm bậc thần, hương khói phụng thờ ngàn đời…”
Ngoài ra Quận Mãn đã cúng cho thôn Thượng (là nơi ông sinh ra) 200 quan tiền cổ và 6 mẫu ruộng; cúng cho thôn Đống và thôn Quảng Nạp mỗi thôn 300 quan tiền sử và 6 mẫu ruộng, Dân 3 thôn cùng với thôn Nhuệ xây dựng ngôi đền, những tư liệu này được dựng bia ghi lại.
Trong cuốn khâm định việt sử thông giám cương mục, trang 974 có nhắc đến: “Bùi Thế Toại đón đánh Hữu Chỉnh ở Hoa Lâm, Thế Toại bị thua, bỏ chạy. Trịnh Bồng lại sai Lê Trung Nghĩa, đốc trấn Thanh Hoa, và Phan Huy Ích đốc thị, đem quân ra đánh. Quân hai bên gặp nhau ở xã Ngọc Giáp, huyện Ngọc Sơn, Trung Nghĩa đánh nhau, bị chết. Huy Ích bị bắt. Hữu Chỉnh vẫn coi thường Huy Ích, nên không thèm giết, mà mang đi theo, rồi thúc quân ồ ạt tiến lên”.
Về sau, khi ông mất, người dân đưa ông về lăng mộ đã xây trước đó để thờ phụng.
Kiến trúc
Lăng Quận Mãn nằm ở một khu đất rộng, bằng phẳng, mặt hướng lên núi Am Hoạch (núi Nhồi). Cạnh lăng mộ có dòng sông Hương Giang, xung quanh có hồ nước, cây cối tạo nên vẻ tĩnh mịch và uy nghiêm.
Qua thời gian lịch sử hiện tại Lăng Quận Mãn không giữ được nguyên vẹn kiến trúc với quy mô đồ sộ như xưa, nhiều kiến trúc đã được thay đổi và phá huỷ, nay chỉ còn lại dấu tích nền móng và những bức tượng đá còn tồn tại.
Cổng Lăng (4 tấm Bia đá)
Trong khuôn viên lăng mộ có 4 tấm bia đá được đặt thành 2 hàng đối xứng nhau, mỗi bên được đặt 2 tấm bia tạo thành cổng của lăng. Các tấm bia này đều được làm bằng đá xanh, đây là đá lấy từ núi nhồi được nghệ nhân làng Nhồi chạm khắc độc đáo, 4 tấm bia với chiều cao khoảng hơn 2m, chiều ngang khoảng hơn 1m, xung quanh nơi đặt tấm bia là nền đất nên có rất nhiều cây hoa cỏ dại mọc lên.
Đế bia được xây theo khối hình hộp chữ nhật ngang, trên đế bia được làm các đường gờ nổi thu nhỏ dần, trên các bề mặt đều được khắc nổi hoa văn hoa văn sóng nước đan xen lẫn nhau.
Trên thân bia gồm có 4 mặt, hai mặt trước sau có kích thước rộng hơn 1m, còn hai mặt hai bên cạnh nhỏ hơn có kích thước khoảng 25cm, tất cả 4 mặt bia đều có khắc chữ Hán. Bên trong mỗi mặt lại được kẻ khung vuông có kích thước nhỏ hơn toàn bề mặt tấm bia, trong khung vuông đó khắc chữ, quanh viền khung vuông thì trang trí hoạ tiết dải hoa dây rất cầu kỳ, nối tiếp nhau kín các mặt diềm bia.
Phần trán bia có hình vòm cung, ở chính giữa trán bia có khắc nổi hình mặt rồng, phần xung quanh có khắc hình long hoá, vân mây cách điệu, đỉnh bia có gắn búp sen và hình nậm rượu. Cả 4 tấm bia đá đều được dựng cùng với thời điểm xây dựng lăng, có cùng niên đại hoàng triều Cảnh Hưng thứ 43 (1782).
Cặp Hổ trước lăng mộ
Qua hàng bia đá là đến hai bức tượng đá hình con Hổ, có chiều cao 1m35, được đặt hai bên đối xứng nhau, hai bức tượng được đặt trên khối đá hình vuông cao khoảng một gang tay người lớn.
Đây là hai tượng Hổ tượng trưng để canh gác cho phần mộ lăng, với tư thế ngồi, hai chân trước chống thằng, hai chân sau thu gọn, lẳng thẳng, mặt hướng về phía trước, đuôi hổ uốn cong vắt vào thân hổ tạo nên vẻ oai phong uy quyền của người canh giữ cho lăng mộ của Quận Mãn.
Bậc thềm lên sân lăng
Phía sau hai bức tượng Hổ là nối bậc thềm lên xuống sân lăng với hai bậc, mỗi bậc được trải dài với chiều rộng 1m, ở hai bên thành bậc thang là cặp rồng chầu cao 0,95cm, dài 1,50m, và bề dày là 0,20m.
Đây là tượng rồng mang phong cách nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XVIII, thân rồng ngắn và thân to hơn, mắt rồng to và nổi rõ hơn các phần còn lại, cánh mũi vòng xoáy to, ở thân rồng trang trí hình vân mây.
Mỗi bên thành bậc thềm được nối liền với cột trụ đá vuông, cao 1,20m, được chạm những đường gờ nổi, đây là cột trụ ngăn cách giữa bậc thềm và sân lăng.
Sân Chầu
Đây là khoảng sân được đặt phần mộ của Quận Mãn, phần sân được xây nền gạch, hai bên là hai dãy tượng đặt đối xứng quay mặt vào nhau, ở giữa là phần quan trọng nhất là phần mộ.
Tượng voi
Hàng đầu tiên tính từ ngoài vào trong của hai dãy là hai tượng voi, trong tư thế phục chầu, chân trước và chân sau quỳ xuống, bức tượng voi có chiều dài 1,70m, chiều cao 1,40m. Tượng voi bên trái của phần mộ là “Sang Lung tượng”, bên phải là “Hùng Cát tượng”.
Tượng voi được đặt trên khối đá hình chữ nhật, chỉ cao hơn so với mặt sân khoảng 10cm, tượng là khối đá đặc, thân và chân đều rất chắc chắn, đầu hướng lên cao, tai vành to rộng tạo nếp, mắt to, cổ đeo chuông, tổng thể tượng rất hài hoà và giúp phần bề thế cho lăng mộ.
Tượng võ sĩ
Hàng thứ hai là hai tượng võ sĩ đặt hai bên, bên trái” là “Lung võ sĩ”, bên phải là “Đôn võ sĩ”, cao khoảng 1,60m, đặt trên đế hình vuông cao hơn mặt sân một chút, tượng võ sĩ mặc trang phục võ quan, áo giáp bên ngoài, áo của võ sĩ được trang trí hoa văn uốn lượn, trước ngực và hai vai chạm mặt khổ phù, tay trái cầm đao, tay phải đặt trước ngực, đội mũ, khuôn mặt uy nghiêm, có râu.
Trước tượng võ sĩ có dựng một khối đá hình vuông, cao khoảng 40cm, đây được gọi là ỷ chầu (bàn gỗ dành cho các quan khi lên chầu, để trà, bài vị, ăn uống…).
Ngựa chầu
Hàng thứ 3 là tượng ngựa chầu, bên trái là “Xích mã” có chiều cao là 1,6m, dài 1,45m, tượng ngựa bên phải là “Yến mã” cao 1,68m, dài 1,50m. Khối tượng được đặt liền xuống đất, bằng với nền sân gạch.
Tượng ngựa tư thế đứng, trên lưng có đeo yên ngựa và đai ngựa, trang trí hoa văn tinh xảo, cổ có đeo vòng chuông nhạc. Đây là chiến mã dành cho các quan võ sĩ khi ra trận, phía trước bức tượng cũng có ỷ chầu bằng đá.
4 hàng tượng võ sĩ gần phần mộ
Sau hàng tượng ngựa là gồm 4 hàng tượng võ sĩ ( quan văn quan võ) sếp theo lần lượt từ ngoài vào trong, cấu trúc cũng được tạo như hàng tượng võ sĩ đầu tiên, đều một tay cầm đại đao, một tay để trước ngực.
Hai hàng tượng này đặt đối xứng nhau gồm các tượng: “Anh lực sĩ, Dũng lực sĩ, Định vũ lực sĩ, Tráng lực sĩ, Cường lực sĩ, Phất lực sĩ, Chiến lực sĩ và 1 tượng chưa rõ tên”. Các hàng tượng này đều có dáng đứng uy nghiêm, thẳng lưng, nghệ thuật chạm khắc tinh xảo và tỉ mỉ.
Ở giữa hai bên hàng tượng có đặt hai khối đá cao khoảng 1,20m, dài 1,30m, được đặt trước các dãy tượng bên trái và bên phải, đây là hương án để thờ các quan võ sĩ chầu. Các mặt của khối hương án được chạm nổi các đường gờ và trang trí hoa lá.
Khối đá nằm chính giữa, trung tâm giữa hai hương án bên trái và bên phải là hương án chính dành cho phần mộ Quận Mãn, kích thước cao và rộng hơn, các hoạ tiết trang trí cũng khác và cầu kỳ hơn so với hai hương án của các quan võ sĩ.
Phía trước hương án Quận Mãn còn có kệ đá cao khoảng 20cm, nằm liền với hương án, trên kệ đá đó cũng đặt các đồ thờ cúng, tổng thể hương án sẽ gồm 2 tầng, tầng dưới và tầng trên đều đặt đồ thờ cúng Quận Mãn.
Lăng mộ Quận Mãn
Nằm sau hương án là phần mộ của Quận Mãn, đây là kiến trúc quan trọng nhất của Lăng, được xây theo “thượng sàng hạ mộ”, xây trên khối đất hình chữ nhật, 2 bậc cao hơn nền sân, trên cấp bậc thứ 2 xung quanh phần mộ được bao bọc bởi 3 tấm đá khối ghép lại, tấm đá có hình cong uốn lượn, giống một long ngai cỡ lớn dài 2,50m, rộng 1,90m. Mặt đá bên trong trang trí hoa văn rồng vân mây.
Bên trong long ngai cỡ lớn là một khối đá hình vuông cao khoảng 20cm, trên khối đá là long ngai có kích thước nhỏ hơn cao 1,25m, rộng 1,90m, bên trong long ngai có đặt bát hương và các đồ thờ.
Kiến trúc xung quanh phần mộ chính
Ngoài những kiến trúc nằm trong sân phần mộ chính, thì ở bên tay trái phần mộ, ở vị trí trên nền đất còn một số công trình khác như tượng các lính canh, nằm ở bên lối đường đi vào lăng còn có một khoảng đất xây kệ đá hình vuông, đặt long ngai và các đồ thờ cúng, bên cạnh long ngai còn có tượng rùa bằng đá cũng được đặt bát hương để thờ cúng.
Bia đá ở lăng Quận Mãn
Lăng Quận Mãn là kiến trúc đá khối lượng lớn được làm từ đá trên núi Nhồi, lưu giữ lại được các hiện vật vô cùng quý giá, các tấm bia được giữ nguyên vẹn, hiện tại lăng có 4 tấm bia đá, đây là những tư liệu quý giá để có thêm cơ sở nghiên cứu và bảo tồn giá trị lịch sử.
Bia 1 : Sinh từ bi kí
生祠碑記
Kí hiệu: 16627/16628
Thác bản bia sưu tầm tại lăng Lê công thôn Nhuệ tổng Bố Đức huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Thác bản 2 mặt, khổ 110 x 300 cm, gồm 46 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 1200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 43 (1782)
Người soạn: Lê Quí Thuần 黎貴醇; quê quán: xã Diên Hà huyện Diên Hà; chức vị: Phụng sai Hưng Hóa xứ Án thủ trấn sở Phó thủ hiệu Hữu Hùng cơ cai quản, tước Thuần Trung hầu.
Người viết: Nguyễn Bình Thừa 阮平承; chức vị: Huyện thừa.
Chủ đề :- Hành trạng, công tích nhân vật.
– Sinh hoạt làng xã
Tóm lược nội dung:
Ghi lai lịch Đô đốc Mãn Trung hầu Lê Trung Nghĩa, ca ngợi những chiến công của ông trong việc dẹp giặc ở biển và vận chuyển quân lương. Ông được nhiều lần thăng thưởng và có nhiều đóng góp cho dân làng. Quan viên, dân làng đã giành đất lập sinh từ cho ông.
Bia 2: Sinh từ bi kí
生祠碑記
Kí hiệu: 303/304
Thác bản bia xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên 紹天府東山縣安穫社, sưu tầm tại đền Lê Quận công thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa
Thác bản 2 mặt, khổ 121 x 166 cm, gồm 37 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 43 (1782)
Người soạn: Lê Quý Thuần 黎貴醇; quê quán: Diên Hà; chức vị: Cai cơ Phó Thủ hiệu; tước Thuần Trung hầu
Người nhuận chính: Trần Nguyễn Nhưng 陳阮 , tên hiệu: Ôn Như; chức vị: Nam cung Thiêm tri Thị nội Thư tả
Người viết chữ: Nguyễn Công Khuyến 阮功勸; chức vị: Huyện thừa
Chủ đề: Hành trạng, công tích nhân vật
Tóm lược nội dung:
Ghi tiểu sử của Tả Đô đốc Mãn Trung hầu Lê Trung Nghĩa Ông là vị đại thần, có nhiều công lao với triều đình, từng giữ chức Hữu Đề điểm tuần phòng cửa biển hộ giá vua nam chinh, thăng chức Tổng thái giám sau được tặng Thiếu bảo, Trấn thủ trấn Kinh Bắc, Tả Đô đốc Dân thôn Nhuệ lập sinh từ thờ ông Trên một mặt của bia này được khắc thêm một đoạn tiểu sử tiếp sau của ông, cho biết ông được phong tước Quận công Năm Bính Ngọ (1786) phụng sai trấn thủ Thanh Hóa, đến tháng 10 năm ấy đánh nhau với quân Tây Sơn bị chết Năm Chiêu Thống thứ 1 (1787) được truy phong Đại vương.
Bia 3: Hậu Thần bi kí
后神碑記
Kí hiệu: 302/305/306/307
Thác bản bia thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên 紹天府東山縣安穫社銳村, sưu tầm tại đền Lê Quận công thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Thác bản 4 mặt, khổ 120 x 150 cm và 41 x 150 cm, gồm 62 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1000 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 43 (1782).
Người soạn: Lê Quý Thuần 黎貴醇; quê quán: Diên Hà; chức vị: Cai cơ; tước Thuần Trung hầu.
Người nhuận chính: Trần Nguyễn Nhưng 陳阮望; chức vị: Thị nội Thư tả.
Người viết chữ: Nguyễn Công Khuyến 阮功勸; chức vị: Huyện thừa.
Chủ đề: – Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
Tóm lược nội dung:
Thôn An Hoạch là nơi ở của Đô đốc Mãn Trung hầu Lê Trung Nghĩa. Cảm kích ân đức của ông, dân thôn xin tôn bầu ông là Hậu thần, lập sinh từ thờ phụng. Ông bèn cấp cho thôn 400 quan tiền cổ và 16 mẫu ruộng dùng vào việc tế lễ. Quy định nghi thức tế tự, rước lễ, hát xướng và lễ vật trong các ngày giỗ.
Bia 4: Hậu thần bi kí
后神碑記
Kí hiệu: 301/308
Thác bản bia xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên 紹天府 東山縣安穫社, sưu tầm tại đền Lê Quận công thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Thác bản 2 mặt, khổ 118 x 162 cm, gồm 54 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1200 chữ, không có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 43 (1782).
Người soạn: Lê Quý Thuần 黎貴醇; quê quán: Diên Hà; chức vị: Cai cơ Phó Thủ hiệu; tước Thuần Trung hầu.
Người nhuận chính: Trần Nguyễn Nhưng 陳阮望, tên hiệu: Ôn Như, chức vị: Nam cung Thiêm tri Thị nội Thư tả; tước Mại Đình tử.
Người viết chữ: Nguyễn Bình 阮坪; chức vị: Huyện thừa.
Chủ đề: Sinh hoạt làng xã. – Hành trạng, công tích nhân vật.
Tóm lược nội dung:
Dân 5 thôn Kiều Đại, Vệ An, Thọ Vực, Đồng Dặc và thôn Văn tôn bầu Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, phụng sai Kinh Bắc xứ Trấn thủ Chánh Thủ Hiệu Hậu dực cơ, kiêm quản Trung quân Đô đốc phủ Tả Đô đốc Lê Trung Nghĩa làm Hậu thần. Ông là vị đại thần, có danh vọng lớn, lại có nhiều ơn nghĩa với địa phương. Các thôn đều được Tả Đô đốc cấp cho tiền và ruộng để thờ phụng và cùng với thôn Nhuệ (nơi ông cư trú), lập đền thờ, dựng bia quy định các nghi thức cúng tế cùng vị trí các thửa ruộng.
Bia 5: Hậu thần bi kí
後神碑記
Kí hiệu: 299/300
Thác bản bia xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên 紹天府 東山縣安穫社, sưu tầm tại đền Lê Quận công thôn Nhuệ xã An Hoạch huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Thác bản 2 mặt, khổ 120 x 153 cm, gồm 48 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1200 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 43 (1782).
Người soạn: Lê Quý Thuần 黎貴醇; quê quán: Diên Hà; chức vị: Cai cơ, Phó Thủ hiệu; tước Thuần Trung hầu.
Người viết chữ: Nguyễn Công Khuyến 阮功勸, tên hiệu: Lang Trung 琅忠; chức vị: Thị nội Thư tả, Huyện thừa.
Chủ đề:
-Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
-Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Tóm lược nội dung:
Tả Đô đốc Mãn Trung hầu Lê Trung Nghĩa, người xã An Hoạch huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên là vị đại thần có danh vọng và có nhiều ơn nghĩa với địa phương. Cảm kích ân tình của ông, dân ba thôn Thượng, Đông và Quảng Nạp xã An Hoạch tôn bầu ông làm Hậu thần. Đáp lại thịnh tình của dân, ông Lê Trung Nghĩa đã cúng cho thôn Thượng (là nơi ông sinh ra) 200 quan tiền cổ và 6 mẫu ruộng; cúng cho thôn Đống và thôn Quảng Nạp mỗi thôn 300 quan tiền sử và 6 mẫu ruộng, Dân 3 thôn cùng với thôn Nhuệ xây dựng ngôi đền, dựng bia ghi lại số ruộng thờ và cam kết thờ cúng.
Xếp hạng
Lăng Quận Mãn là một trong những di tích di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh của núi Nhồi được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là cụm di tích lịch sử văn hóa thắng cảnh cấp quốc gia.
Ngoài ra đây còn là địa điểm nổi tiếng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan, qua thời gian khu lăng mộ đã xuống cấp, nhiều kiến trúc đã bị mai một, cần có biện pháp chủ trương để bảo tồn và lưu trữ lại được những giá trị lịch sử của Lăng Quận Mãn.
chú thich
1. Di tích Lăng Quận Mãn, Hoàng Thị Chiến, Thanh Hoá di tích và thắng cảnh, Nxb Thanh Hoá 2002. Trang 195.
2. Lập đền thờ người đang sống, có sự nghiệp công trạng lớn với dân và đất nước.
Tham khảo
- Di tích Lăng Quận Mãn, Hoàng Thị Chiến, Thanh Hoá di tích và thắng cảnh, Nxb Thanh Hoá 2002.
- Lưu Minh Trị, Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II), Nxb Hà Nội.
- Tên làng xã Thanh Hóa tập II, Nxb Thanh Hoá (2001).
- Vọng Phu Thạch, Trang thơ Nguyễn Du.
- Khâm định việt sử thông giám cương mục.
- Thác bản văn khắc hán nôm việt nam, quyển I.
- Danh thắng Tên làng xã Thanh Hóa tập II, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II).