Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Viên (dân làng gọi), còn có tên gọi chữ là Anh Linh tự, tọa lạc tại thôn Viên, xóm 19, nay thuộc địa bàn xã Cổ Nhuế, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vị trí chùa nằm ở khu vực phía Tây Bắc kinh thành Thăng Long xưa, ven theo dòng sông Nhuệ – một trong những trục thủy đạo cổ quan trọng nối liền Thăng Long với các vùng phụ cận.
“Anh Linh” hàm chứa ý nghĩa sâu sắc, không chỉ mang dấu ấn linh thiêng nơi thờ Phật, mà còn biểu thị lòng tôn kính đối với một nhân vật lịch sử có công với dân, với nước – công chúa Túc Trinh, người đã khởi dựng nên ngôi chùa này từ buổi đầu khai phá vùng đất. Trong ký ức cộng đồng địa phương, chùa Anh Linh là một điểm tựa tinh thần, một di tích tiêu biểu vừa mang giá trị tôn giáo, tín ngưỡng, vừa lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, lịch sử đặc sắc của vùng đất Cổ Nhuế xưa.
Lịch sử và nhân vật
Theo truyền tích dân gian và một số thư tịch cổ còn lưu truyền trong dân gian địa phương, chùa Anh Linh gắn liền với hành trạng và công đức của công chúa Trần Khắc Hãn, hiệu là Túc Trinh công chúa – con gái của vua Trần Nhân Tông, vị vua anh minh và là Thiền sư lừng danh trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Vào khoảng năm Mậu Ngọ (1258), sau chiến thắng vang dội trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ nhất, triều đình nhà Trần chủ trương khôi phục và phát triển sản xuất để ổn định dân sinh, củng cố quốc lực. Theo chiếu chỉ của vua Trần, các vương hầu, công chúa được lệnh chiêu tập dân phiêu tán, đưa dân đến vùng đất hoang ven kinh thành Thăng Long để khai khẩn, lập làng, tổ chức sản xuất. Trong bối cảnh đó, công chúa Túc Trinh đã rời bỏ cung điện, dẫn theo đoàn người từ kinh đô đến khu vực Cổ Nhuế, vùng đất khi ấy còn hoang vu, sình lầy, dân cư thưa thớt để cùng nhân dân khai hoang, trị thủy, lập ấp.
Với lòng từ bi và chí nguyện hộ quốc an dân, công chúa đã xuất tiền của, phát chẩn cứu đói, cấp vốn dựng nhà, hướng dẫn người dân cách thức canh tác, trồng trọt, xây dựng cuộc sống định cư ổn định. Nhờ công lao ấy, làng Cổ Nhuế Viên, tiền thân của khu vực xóm Viên ngày nay đã từng bước được hình thành, trở thành một cộng đồng nông nghiệp vững mạnh, giàu truyền thống văn hóa và tín ngưỡng.
Không chỉ dừng lại ở việc phát triển đời sống vật chất, công chúa Túc Trinh còn chăm lo đời sống tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là việc hoằng dương Phật pháp, dẫn dắt dân chúng sống thiện lương, từ bi, hiếu nghĩa. Chính trong bối cảnh ấy, bà đã cho xây dựng chùa Anh Linh như một trung tâm tâm linh, nơi quy tụ niềm tin tín ngưỡng của cộng đồng mới lập làng. Ngày đêm bà chăm sóc Phật điện, tổ chức giảng pháp, khuyến khích người dân thờ Phật, học đạo, đồng thời vẫn không ngơi nghỉ việc hướng dẫn lao động sản xuất.
Sau khi hoàn thành việc khẩn hoang lập ấp ở vùng Viên, bà tiếp tục đến làng An Nội (nay thuộc xã Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm) để tiếp tục sứ mệnh ân đức, mở mang bờ cõi và xây dựng thêm các công trình phúc lợi, tôn giáo khác.
Cảm mến và ghi nhớ công đức to lớn của bà, người dân các làng xã trong vùng đã phụng thờ công chúa Túc Trinh như một vị Thánh mẫu hộ quốc an dân, phong bà là Hậu Phật, lập tượng thờ tại chùa Anh Linh và chùa Thiên Phúc. Trong dân gian, bà còn được thờ phụng tại nhiều miếu, đền với mỹ tự là Tối Linh Từ, được tôn làm Thần Chủ của làng Viên và các vùng phụ cận.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Anh Linh (Anh Linh Tự) hiện được xây dựng theo mặt bằng hình chữ Đinh (丁) – một kiểu bố cục phổ biến trong kiến trúc Phật giáo truyền thống ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là từ thời Lê sơ trở đi. Cấu trúc “Đinh” thể hiện sự kết hợp giữa hai khối công trình chính: Tiền Đường và Thượng Điện, được bố trí nối tiếp vuông góc nhau, tạo nên sự chuyển tiếp không gian rõ ràng giữa nơi đón tiếp, sinh hoạt tín ngưỡng chung và khu vực hành lễ linh thiêng.
Tiền Đường
Tiền đường gồm 3 gian, xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, tức là hai tường hồi đặc kín, mái nghiêng dốc, không có cửa mở, đặc trưng cho kiểu thức kiến trúc dân gian truyền thống mang tính chất kín đáo và thiền vị. Mái lợp ngói ta truyền thống, độ dốc vừa phải, đao cong ở hai đầu hồi góp phần tạo nên sự mềm mại và thanh thoát cho tổng thể.
Hệ khung mái của Tiền Đường được thi công theo mô thức “giá chiêng nhị” ở hai bộ vì gian giữa. Đây là một kiểu kết cấu đặc thù trong kiến trúc gỗ truyền thống, trong đó vì kèo trung tâm sử dụng hai giá đỡ ngang (giá chiêng), thường dùng cho những công trình quy mô vừa phải, mang tính thực dụng nhưng vẫn đảm bảo yếu tố thẩm mỹ. Phần cốn nách của Tiền đường làm theo lối “kẻ chuyền”, là một kỹ thuật đặc trưng có từ thời Hậu Lê, trong đó các thanh xà ngang đặt trên đầu cột, liên kết với vì kèo qua các thanh kẻ, góp phần truyền lực mái xuống cột đứng và tạo độ vững chắc cho hệ kết cấu chịu lực.
Thượng Điện
Phía sau Tiền đường là Thượng điện, cấu trúc gồm 5 gian, có quy mô lớn hơn, thể hiện tính trang nghiêm của không gian thờ Phật. Đây là nơi đặt các ban thờ chính, tượng Phật và các pho tượng Bồ Tát, La Hán. Kiến trúc Thượng điện cũng được thiết kế theo lối truyền thống với hệ khung gỗ lim, mái lợp ngói ta, hệ đao cong và đầu hồi thường được trang trí họa tiết linh vật như rồng, phượng hoặc hoa văn mây lửa.
Không gian Thượng điện được phân tầng nghiêm ngặt theo thứ bậc thờ tự trong hệ thống Phật giáo Bắc tông. Gian trung tâm là nơi tôn trí bộ tượng Tam Thế và Tam Tôn; các gian bên lần lượt thờ tượng A Di Đà, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Địa Tạng, Hộ Pháp – Tiêu Diện… phản ánh hệ thống bài trí mang tính quy chuẩn của Phật giáo truyền thống.
Nhà Tổ và Nhà Mẫu
Hai bên Thượng điện bố trí đối xứng: một bên là Nhà Tổ, một bên là Nhà Mẫu, tạo nên tổng thể kiến trúc cân xứng, vừa mang tính tôn nghiêm, vừa phản ánh sinh hoạt tín ngưỡng kết hợp đặc trưng của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu cùng tồn tại hòa hợp. Cả hai công trình phụ này đều có quy mô nhỏ hơn, thường gồm từ 1 đến 3 gian, kết cấu gỗ, mái ngói truyền thống, nội thất được bài trí đơn giản nhưng trang nghiêm, thể hiện sự tiếp nối của truyền thống “uống nước nhớ nguồn” trong đời sống tâm linh của cộng đồng.
Theo ghi nhận của nhân dân địa phương và một số tài liệu hồi cố, chùa Anh Linh từng bị phá hủy gần như hoàn toàn trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, cụ thể vào giai đoạn cuối thập niên 1940 đến đầu những năm 1950. Việc phá hủy này xảy ra trong bối cảnh chiến sự lan rộng ở vùng Tây Bắc kinh thành Thăng Long cũ, nơi Cổ Nhuế là một trong những điểm nóng quân sự. Chùa, lúc đó là một kiến trúc gỗ truyền thống, đã không thể tránh khỏi sự tàn phá do bom đạn và chiến sự ác liệt.
Sau năm 1954, hòa bình lập lại ở miền Bắc, quần thể chùa Anh Linh được phục dựng dần dần bằng nỗ lực chung của nhân dân thôn Viên cùng với sự đóng góp công đức của nhiều Phật tử và tín chủ gần xa. Công cuộc trùng tu chùa không diễn ra cùng một lúc, mà được tiến hành qua nhiều giai đoạn kéo dài, trong đó mỗi giai đoạn đều mang dấu ấn rõ nét của thời kỳ lịch sử và điều kiện kinh tế – xã hội đương thời.
Các đợt phục dựng lớn diễn ra vào thập niên 1970, 1990 và đầu thế kỷ XXI tập trung vào việc khôi phục mặt bằng tổng thể, dựng lại các hạng mục chính như Tiền Đường, Thượng Điện, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, đồng thời tái thiết lại hệ thống tượng thờ và bài trí nội thất. Trong quá trình đó, tuy một số chi tiết kiến trúc cổ đặc biệt là các bộ vì kèo, đầu dư, chạm khắc trang trí,… không còn được bảo lưu nguyên vẹn, nhưng chùa vẫn cố gắng duy trì và khôi phục bố cục truyền thống, kiểu thức kiến trúc gỗ, hệ mái lợp ngói ta, và sử dụng vật liệu cùng kỹ thuật xây dựng gần sát với nguyên mẫu xưa.
Điểm đáng lưu ý là chùa đã vận dụng linh hoạt giữa việc bảo tồn yếu tố cổ truyền và thích ứng với điều kiện hiện đại hóa trong xây dựng. Một số bộ khung gỗ cũ bị hư hỏng đã được thay thế bằng gỗ mới, nhưng vẫn tôn trọng kích thước, tỷ lệ và kỹ thuật mộng truyền thống. Một vài hạng mục phụ như Tam Quan, sân chùa, Nhà Khách cũng được mở rộng hoặc xây mới, góp phần hoàn chỉnh không gian tín ngưỡng, đồng thời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo ngày càng phát triển của cộng đồng.
Tổng thể kiến trúc hiện nay của chùa Anh Linh có thể được xem là một minh chứng sinh động cho quá trình bảo tồn và phục dựng di sản văn hóa Phật giáo trong bối cảnh hiện đại, phản ánh rõ ý thức gìn giữ cội nguồn tâm linh và bản sắc kiến trúc truyền thống của người dân địa phương. Dù phải trải qua biến cố chiến tranh và những biến động lịch sử sâu sắc, nhưng chùa vẫn giữ được hồn cốt xưa trong từng đường nét kiến trúc và cách bài trí không gian, đóng vai trò như một trụ cột tâm linh và văn hóa quan trọng của vùng đất Cổ Nhuế.
Hiện vật
- Hiện nay, chùa Anh Linh vẫn lưu giữ được một hệ thống tượng Phật khá đầy đủ, trong đó phần lớn các pho tượng được chế tác vào cuối thời Nguyễn (khoảng nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX). Các tượng chủ yếu được tạc bằng gỗ sơn son thếp vàng, với đường nét tạo hình mềm mại, gương mặt tượng đôn hậu, áo cà sa phủ nếp gấp uyển chuyển, đặc trưng phong cách mỹ thuật tôn giáo giai đoạn muộn của triều Nguyễn, khi nghệ thuật Phật giáo mang đậm yếu tố cung đình kết hợp dân gian. Một số pho tượng tiêu biểu như bộ Tam Thế Phật, Quan Âm Chuẩn Đề, Phật Di Đà, Phật Thích Ca,… được đặt trên các bệ gỗ sơn son, chạm hoa văn rồng mây và hổ phù, gợi không gian tôn nghiêm và linh thiêng trong lòng chánh điện. Tuy không phải là những tác phẩm có niên đại cổ xưa nhất, nhưng hệ tượng tại chùa vẫn có giá trị lớn về mặt lịch sử nghệ thuật, minh chứng cho sự kế thừa và phát triển liên tục của mỹ thuật Phật giáo qua nhiều thời kỳ.
- Chùa còn lưu giữ được 2 tấm bia: Bia niên đại Cảnh Trị đời Hậu Lê (1664) và Bia niên đại Tự Đức thứ 12 (1864).
- Quả chuông bằng đồng đen được có niên hiệu thời vua Tự Đức 1871.
Sự kiện và lễ hội
Sau này, ngày giỗ công chúa Túc Trinh được tổ chức ở cả hai làng An Hội và Cổ Nhuế. Đêm 30/7 âm lịch hàng năm, làm lễ mở cửa đền. Vào giờ Tý ngày mồng 1/8 âm lịch hàng năm, làm lễ mộc dục và cúng thức. Lễ mộc dục do một vị bô lão trong làng đảm nhiệm, trang phục chỉnh tề, đầu đội khăn xếp, quần trùng, áo dài, chân đi hài vân sảo, tất cả đều màu đỏ. Vị bô lão thay mặt cho cả dân làng làm việc ân đức với Chúa nên hết sức tuân thủ các điều kiêng kỵ: ăn chay một tháng, không ngủ chung với phụ nữ… Nước làm lễ mộc dục phải là nước mưa tinh khiết nấu với ngũ vị hương. Người nấu nước ngũ vị là đàn bà và cũng phải tuân thủ các điều kiêng cữ như vị bô lão. Trước khi làm lễ, vị bô lão rửa tay gọi là quán tẩy, vẩy nước hoa vào người, xoa lên mặt, đầu và hai tay, gọi là tẩy uế.
Sau khi mộc dục cho Chúa Bà, các đồ mã cũ đem đốt, dâng đồ mới. Y phục cũ của Chúa Bà được người ta tranh nhau lấy phần đem về để ở bàn thờ tổ tiên với ý nghĩa: có phép màu nhiệm của Chúa Bà, gia đình sẽ làm ăn hưng thịnh, tránh mọi điều xấu hoặc se thành sợi buộc vào cổ tay, chân hay đeo ở cổ cho trẻ con đi đêm không sợ ma quỷ, đêm ngủ không giật mình. Các bà già cũng lấy một miếng vải áo của Chúa Bà khâu ở vạt áo hoặc buộc vào tràng hạt để cầu mong sau này chết được Chúa Bà giúp sức chầu về cảnh tây phương cực lạc.
Lễ mộc dục xong là đến lễ cúng thức, ông chủ tế đọc chúc văn, nội dung ca ngợi công đức của công chúa Túc Trinh đối với dân làng Cổ Nhuế từ xưa tới nay, cầu xin hồng ân của trời đất, phật, thánh, Chúa Bà ban phúc lành cho quốc thái, dân an.
Sáng ngày mùng 1/8 âm lịch, cúng phật tại chùa Anh Linh, sau đó về đền Chúa làm lễ khai quang, yên vị xin Chúa cúng giỗ. Ngày giỗ Chúa gọi là cúng đối kỵ, có dâng lục cúng: hương, hoa, trà, quả, đăng, thực. Lễ cúng thực gồm có: Cơm tẻ nấu bằng gạo lứt, muối vừng, trám đen muối, giá luộc, tương, canh đậu xanh; sau nghi lễ cúng thực dâng chè kho, chè lam và kẹo lạc.
Trong ngày giỗ Chúa, dân hai làng Cổ Nhuế và An Nội phải tuân thủ theo lệ: Không rước tượng Chúa đi viễn du, không đốt pháo từ ngày 25/7 – 2/8 âm lịch. Ngày giỗ Chúa toàn dân làm cỗ chay, ăn chay. Những sản vật trong từng nhà sản xuất được đem dâng lễ tại đền như: mít, dừa, lựu, chuối, na, cam, mía, khoai luộc… Ngoài ra, các gia đình, ngõ xóm nằm trên trục đường xã Cổ Nhuế – Chèm đều sắm hoa quả, vàng, hương, đèn nến, oản, phẩm, đặt lên một chiếc bàn con kê ngoài rìa đường, dâng lên đức Chúa Bà, cầu xin Chúa ban phúc cho gia đình, làng xóm khỏe mạnh, làm ăn hưng thịnh, vạn vật sinh sôi, nảy nở. Đêm ngày giỗ Chúa, tại đền có tổ chức hát chèo, diễn tuồng, múa lân, múa rồng, đọc và bình thơ rất sôi nổi.
Xếp hạng
Nhờ những giá trị lịch sử, kiến trúc và tâm linh tiêu biểu, chùa Anh Linh (Anh Linh Tự) đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử – nghệ thuật cấp quốc gia vào ngày 21/6/1993, theo Quyết định của Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Việc công nhận này không chỉ khẳng định vị trí quan trọng của chùa trong lịch sử văn hóa Phật giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà còn là một minh chứng rõ nét cho ý nghĩa lịch sử gắn liền với triều đại Trần và truyền thống lập làng, hộ quốc an dân của công chúa Túc Trinh.
Việc xếp hạng di tích cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị của chùa trong đời sống văn hóa đương đại. Từ sau mốc năm 1993, nhiều chương trình trùng tu, tôn tạo chùa đã được triển khai với sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, Ban quản lý di tích và cộng đồng Phật tử, góp phần bảo vệ không gian linh thiêng, đồng thời tạo nền tảng cho các hoạt động giáo dục truyền thống, sinh hoạt tôn giáo và nghiên cứu học thuật.
Tài liệu tham khảo
- “Kẻ Noi – Di tích lịch sử”, VOV Giao thông, https://vovgiaothong.vn/ke-noi–di-tich-lich-su-d25455.html, ngày 01/02/2019.
- Nguyễn Thế Long, Phạm Mai Hùng (2005), Các Ngôi Chùa ở Hà Nội, Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh Thắng Và Di Tích, Tập 2, Nxb Hà Nội.
___________________________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Anh Linh Pagoda, also known as Anh Linh Tu, is situated on Co Nhue Street, Co Nhue 2 Ward, Bac Tu Liem District, Hanoi. It was constructed through the contribution of Princess Tran Khac Han (Princess Tuc Trinh), the daughter of King Tran Nhan Tong, aiming to cultivate and build a village after the victory over the Yuan army in the year Mau Ngo 1258. The pagoda is the result of the meritorious deeds of Princess Tuc Trinh, assisting the people in building Ke Noi Village (now Co Nhue Commune).
Anh Linh Pagoda has experienced various historical events, including the resistance against the French, and has undergone multiple renovations.
In 1993, the pagoda was ranked as a historical and artistic relic.
Architecturally, the pagoda has a “nail” shaped layout with a front hall consisting of three sections in the style of “revolving brick wall.” The central roof system is constructed in the “double gable, conjoined ridge” style, and there are ancestral halls and Mother Goddess temples located at the sides.
The pagoda preserves many cultural and historical artifacts, including Buddha statues reflecting the late Nguyen dynasty’s artistic style, the Canh Tri stele from the Le dynasty in 1664, and the Tu Duc stele from 1864.
The commemoration day of Princess Tuc Trinh is celebrated in both An Hoi and Co Nhue villages, accompanied by the opening ceremony of the temple and the ritualistic wooden hammer ceremony. On the morning of the 1st day of the 8th lunar month, Buddhist rituals are performed at Anh Linh Pagoda, followed by the temple’s opening ceremony and memorial service. The villagers adhere to the rituals and respect the regulations of the festival.
Tiếng Trung (Chinese)
安灵寺,又称安灵寺,坐落在河内市北图林区Co Nhue 2区的Co Nhue街。 它是由Tran Khac Han公主(Tuc Trinh公主),也就是Tran Nhan Tong国王的女儿的贡献而建造的,旨在在1258年Mau Ngo战胜元朝后培育和建立一个村庄。 这座佛塔是Tuc Trinh公主的恩德之举的结果,她帮助人们建立了Ke Noi村(现在是Co Nhue Commune)。
安灵寺经历了各种历史事件,包括反抗法国的斗争,并多次进行了翻新。
1993年,寺庙被评为历史和艺术遗迹。
在建筑上,寺庙呈“钉子”形状的布局,前殿由三个部分组成,呈“旋转的砖墙”风格。 中央屋顶系统采用“双山,相连的屋脊”风格建造,两侧分别是祖先大厅和妈祖庙。
寺庙保存了许多文化和历史文物,包括反映了后期阮朝艺术风格的佛像,来自1664年的Le王朝的Canh Tri石碑和1864年的Tu Duc石碑。
公主Tuc Trinh的纪念日在An Hoi和Co Nhue两个村庄都有庆祝活动,伴随着寺庙的开幕式和木槌仪式。农历八月初一早上,在安灵寺进行佛教仪式,随后是寺庙的开幕典礼和祭祀仪式。村民遵循仪式,尊重节日的规定。
Tiếng Pháp (French)
La pagode Anh Linh, également connue sous le nom d’Anh Linh Tu, est située dans la rue Co Nhue, quartier Co Nhue 2, district de Bac Tu Liem, à Hanoi. Elle a été construite grâce à la contribution de la princesse Tran Khac Han (princesse Tuc Trinh), fille du roi Tran Nhan Tong, dans le but de cultiver et de construire un village après la victoire sur l’armée Yuan en l’an Mau Ngo 1258. La pagode est le résultat des mérites de la princesse Tuc Trinh, qui a aidé le peuple à construire le village de Ke Noi (aujourd’hui la commune de Co Nhue).
La pagode Anh Linh a connu divers événements historiques, notamment la résistance contre les Français, et a fait l’objet de plusieurs rénovations.
En 1993, la pagode a été classée comme un site historique et artistique.
Du point de vue architectural, la pagode a une disposition en forme de “clou” avec une salle avant composée de trois sections dans le style “mur de briques rotatif”. Le système de toit central est construit dans le style “double pignon, crête conjoins”, et il y a des salles ancestrales et des temples de la déesse mère sur les côtés.
La pagode conserve de nombreux artefacts culturels et historiques, dont des statues de Bouddha reflétant le style artistique de la fin de la dynastie Nguyen, la stèle Canh Tri de la dynastie Le en 1664 et la stèle Tu Duc de 1864.
La journée commémorative de la princesse Tuc Trinh est célébrée dans les villages d’An Hoi et de Co Nhue, accompagnée de la cérémonie d’ouverture du temple et de la cérémonie rituelle du marteau en bois. Le matin du 1er jour du 8e mois lunaire, des rituels bouddhistes sont effectués à la pagode Anh Linh, suivis de la cérémonie d’ouverture du temple et du service commémoratif. Les villageois respectent les rituels et les règlements du festival.
