Đình Kim Giang
Tên gọi và vị trí địa lý
Trên khu đất cao ráo tại tả ngạn sông Tô Lịch, về phía Tây Nam nội thành Hà Nội có sự hiện diện của cụm di tích đình – đền Kim Giang thuộc phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Lược sử
Đình Kim Giang còn có tên gọi là đình Lủ Cầu thờ vị thành hoàng làng Mạo Giáp Hoa, người ở Phong Châu, sinh ngày 12 tháng 2 năm Quý Mùi.
Mẫu thân Ngài là bà Lê Ngại mang thai được 12 tháng, trở dạ 10 ngày thì sinh. Trong khoảng thời gian 10 ngày (từ ngày mùng 2 đến ngày 12) thì trong nhà bà Lê Ngại hương thơm khắp nhà, khi chào đời, da vân sắc đẹp tựa hồng hoa nên được đặt tên là Mạo Giáp Hoa. Mạo Giáp Hoa tuy trẻ nhưng thân phủ phi phàm, tướng mạo khác người, mặt vuông chữ điền, bụng dạng chữ tâm, gặp ai cũng cười vui hoan hỉ, trí tuệ hơn người, đức hạnh ưu việt.
Mạo Giáp Hoa rất hiếu học và thông minh, năm 16 tuổi đã lập được nhiều chiến công, khai bình bảo quốc đánh giặc lập công. Thời ấy, đất nước thanh bình, nhân dân sung túc, triều đình mở khoa thi chọn người hiền tài. Mạo Giáp Hoa ứng thi, đỗ thủ khoa, thi Đình đỗ Hoàng Giáp. Nhà vua phong Ngài làm đốc học Sơn Tây, được 6 tháng thăng lên làm Tham Tri bộ Binh. Vừa lúc nước nhà gặp biến, bờ cõi có giặc ngoại xâm, vua giao cho Mạo Giáp Hoa thống lĩnh ba nghìn sĩ tốt, bao vây đồn giặc ở Hiệp Thượng, Hiệp Hạ (Sơn Tây) giành thắng lợi lớn.
Trên đường dẫn đại quân chiến thắng trở về Thăng Long, qua trại cầu, trang Kim Lủ, phủ Thường Tín, ngài cho quân nghỉ lại, mở tiệc ăn mừng cùng nhân dân địa phương, hôm đó là ngày rằm tháng 7. Tại trại cầu, ngài thấy ở đây có địa thế cảnh sắc đẹp, con người hiền hậu, nhân hoà, bèn ban cho nhân dân ba trăm quan tiền để lập miếu thờ. Sau khi ngài hoá ngày 12 tháng Hai, nhân dân trại Cầu cảm mến ân đức, tôn thờ ngài làm vị thành hoàng làng bảo trợ đời sống tinh thần cho nhân dân.
Kiến trúc
Nhà Đại bái gồm 5 gian, kiến trúc theo kiểu đầu hồi bít đốc, lợp ngói ta, bộ vì kết cấu lối giá chiêng kê đấu rất chắc chắn và thanh thoát, hoa văn phong phú, đa dạng. Đề tài trang trí chủ yếu mang tính truyền thống như rồng phun mây, long cuốn thuỷ, cá hoá rồng, tứ linh, đao mác… Hậu cung là một ngôi nhà vuông với kết cấu vì kèo 8 mái, lợp ngói ta.
Di vật – Lễ hội
Nhiều di vật quý còn được lưu giữ, gồm 8 đạo sắc phong ngai thờ, 3 bức đại tự, một cỗ kiệu bát cống thời Nguyễn, đều được sơn son thếp vàng. Lễ hội đình Kim Giang được tổ chức vào hai ngày 11-12/2 âm lịch. Chính hội là ngày 12, kỷ niệm ngày Mạo Giáp Hoa thắng trận khao quân.
Ngày 11/2: Buổi sáng, lễ khai mạc được diễn ra sau một hồi trống tưng bừng của đội trống trong làng. Sau đó là lễ tế nhập tịch tại đình và đền do các cụ bô lão trong làng với trang phục truyền thống vào lễ cáo xin phép với Thành hoàng làng. Buổi chiều được tiếp tục với các hoạt động vui chơi dân gian truyền thống như chọi gà, chơi cờ tướng, đánh đu. Buổi tối có biểu diễn ca múa nhạc tại sân đình làng Kim Giang.
Ngày 12/2: Là ngày hội chính được bắt đầu bằng lễ rước bảng sắc phong từ nhà sắc về đình, đền. Đi đầu đoàn rước là đội múa rồng do thanh niên làng đảm nhiệm sau đó là các cháu thiếu nhi rước ảnh Bác Hồ, tiếp là đội tế lễ nam và nữ. Đội múa sinh tiền được các cháu thiếu nhi biểu diễn suốt cả đoạn đường rước kiệu. Bảng sắc phong đi cùng đoàn rước kiệu do hội phụ nữ làng đảm nhiệm, sau cùng là đội lễ của nhân dân trong làng và ngoài làng cùng tham gia lễ hội. Chương trình được tiếp tục với màn đội tế nam, tế nữ làm lễ dâng hương và đọc chúc văn tế Thánh lễ Mẫu tại đình, đền. Sau đó dân làng và du khách cùng hưởng lộc thánh. Buổi chiều được tiếp tục với các tiết mục hoạt động vui chơi trao giải thưởng cho các trò chơi đạt giải tại sân đền. Lễ tạ Thánh và tổng kết lễ hội được các cụ bô lão và dân làng tham gia tiến hành vào lúc xế chiều.
Đền Kim Giang
Đền Kim Giang có tên gọi khác là đền Lủ Cầu, toạ lạc giữa đình và chùa Kim Giang. Theo nguồn tư liệu có ký hiệu TT – TS FQA-18/ll,10 lưu tại kho tư liệu của Viện Thông tin Khoa học xã hội nay là Viện Hán Nôm, bản “Phụng sao sự tích đức thánh mẫu” do Tiến sĩ Mai Hồng dịch thì đền Kim Giang thờ Mẫu Sòng – Liễu Hạnh, một trong những “tứ bất tử’ trong tâm thức của người Việt. Bản phụng sao sự tích đức thánh mẫu có ghi: trang Kim Lủ cầu phụng thờ bà Lê Mỵ Châu Thiên Tiên Công Chúa, ở Thiên Bản, An Thái – một vùng đất sơn tú, có người họ Lê, ăn ở hiền đức, thưòng hay giúp người khó khăn hoạn nạn nhưng hiềm nỗi hiếm muộn con cái. Một buổi tối, ông bà cùng nhau ngồi tựa mái hiên uống rượu, uống trà, ngắm trăng, bỗng nhiên bà vợ mơ màng và gặp tiên nữ từ trên trời giáng xuống ngay trước mặt, chắp tay quỳ nói: “Thiếp chính là con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế, chẳng may làm vỡ cái chén ngọc của vua cha, bị giáng xuống trần 20 năm mãn hạn thì trở về tiên giới. Nay thấy mẹ phúc dầy đức cả, xin đầu thai làm con gái”. Nói xong, nàng bèn đưa cho phu nhân bông hạnh hoa. Từ đó, phu nhân liền mang thai và sinh hạ được một người con gái xinh đẹp như cô tiên trong mộng, đặt tên là Hạnh Nương. Hạnh Nương được 1 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời. Bấy giờ, người cô ruột lấy chồng là Trần Quang Huy, người Nam Xang, nhiều tuổi mà không có con mới nhận Hạnh Nương về nuôi dưỡng. Năm Hạnh Nương 15 tuổi thì gả cho Liễu Nghi, người Châu Ái (thuộc Thanh Hoá ngày nay). Năm 21 tuổi, Hạnh Nương đổ bệnh qua đời. Từ sau khi Hạnh Nương qua đời thì biến tướng muôn hình muôn vẻ, lúc biến thành nam nhi, khi hoá thành nữ giới, đi khắp nẻo, tới khắp nơi, cuối cùng dựng lều bán nước ở làng Vân Cát. Quan quân ai qua đây đều bị ám hại, sợ hãi lên đã lập đền thờ. Triều đình hạ lệnh cho đốt quán vẫn không được, bèn truyền cho dân lập đền thờ hai bên Vân Cát và Sùng Sơn, phong tặng là Vân Cát Minh Vương Liễu Hạnh Mạ Vàng Công Chúa, từ đó nhân dân cầu đảo đều linh ứng. Lại nói, Vân Cát Minh Vương Liễu Hạnh Mạ Vàng Công chúa còn giáng hạ tại nhiều nơi, trong đó có một địa điểm tại Tây Hồ. Như vậy, đền Kim Giang trước đây thuộc địa phận trại cầu, trang Kim Lũ, tổng Khương Đình cũng được nhân dân lập lên để thờ phụng bà.
Kiến trúc và nghệ thuật
Đền Kim Giang gồm các hạng mục: Lầu bát giác giữa hồ bán nguyệt, tiếp đến là sân gạch dẫn đến Đại bái và Hậu cung kết cấu chữ đinh, hai bên sân gạch bên hữu là nhà thờ đức thánh Trần và bên tả là nhà thờ Tam toà Thánh Mẫu.
Các hạng mục kiến trúc chính của đình – đền Kim Giang như Đại bái và Hậu cung đều được kiến tạo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp bằng ngói ri. Bên trong, các bộ vì tương ứng với các gian được kết cấu theo cách thức “Thượng giá chiêng, hạ kẻ ngồi, bảy hiên”. Nét đặc sắc, nổi bật nhất trong kiến trúc đình – đền Kim Giang là hạng mục Hậu cung của đền với 3 gian nhà dọc nối liền với gian giữa Đại bái, được kiến tạo dạng 2 tầng 6 mái với đao cong, ba mặt được bưng kín tạo thành không gian thiêng liêng bài trí khám và tượng Mẫu Liễu Hạnh.
Di vật
Bên cạnh giá trị về kiến trúc, đền Kim Giang còn lưu giữ được hệ thống di vật khá phong phú. Các di vật tiêu biểu như: bức hoành phi khá lớn của đền đề 4 chữ Hán “Duy nhạc giáng thần”, bằng chất liệu gỗ, được sơn son thếp vàng, tỉ mỉ với những chi tiết chạm vân hoa lá, hoa lá hoá rồng, hoành phi đề niên hiệu Duy Tân 8 (1914); hệ thống khám và tượng thờ đức thánh Mẫu, cửa võng kép đề Thánh cung vạn tuế, bộ kiệu rước… Đây là những di vật – đồ tế khí mang bức thông điệp lịch sử, có giá trị về mặt nghệ thuật cần được bảo quản, giữ gìn tốt.
Xếp hạng
Với những giá trị như trên, đình – đền Kim Giang đã được Bộ Văn hoá thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xếp hạng tại quyết định 100 VH/QĐ ngày 21/1/1989. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy giá trị cụm di tích đình – đền Kim Giang là việc làm cần thiết và lâu dài, thiết thực góp phần bảo vệ nền văn hoá của dân tộc, qua đó giáo dục tình yêu quê hương đất nước đối với thế hệ hiện sinh.
Tài liệu tham khảo
TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), 2010, Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa – Thông tin.
https://nguoihanoi.vn/dinh-kim-giang-quan-hoang-mai-69179.html#:~:text=%C4%90%C3%ACnh%20Kim%20Giang%20c%C3%B2n%20g%E1%BB%8Di,th%E1%BB%9D%20t%C6%B0%E1%BB%9Bng%20M%E1%BA%A1o%20Gi%C3%A1p%20Hoa.
