Thân thế
Nguyễn Thị Lộ, tên thật là Nguyễn Thị Gấm. Có tư liệu cho rằng bà sinh năm 1390, song cũng có sách cho rằng bà sinh năm 1400, mất năm 1442. Bà sinh ra tại làng Hải Hồ (tục gọi làng Hới), tổng Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tân Hưng. Phủ này trước thuộc tỉnh Hưng Yên, sau sáp nhập vào Thái Bình, nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Làng Hới có nghề dệt chiếu nổi tiếng. Cha bà làm nghề thầy thuốc. Bà là một người con gái xinh đẹp, sắc sảo, lại có tư chất thông minh, được cha cho đi học, thông hiểu sách vở, có tài năng thơ ca. Sau khi cha đi phu bị quân Minh giết chết, bà cùng mẹ tần tảo nuôi dạy các em.
Nhân duyên với Danh nhân Nguyễn Trãi
Trong một lần lên kinh thành bán chiếu Nguyễn Thị Lộ đã gặp Nguyễn Trãi, rồi trở thành vợ thứ của vị quan này. Có thể nói cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là cuộc gặp gỡ rất thi vị với nhiều giai thoại.
Công dư tiệp kỹ của Vũ Phương Đề (1679-?) cho biết, một hôm, Nguyễn Trãi trên đường đi chầu về, gặp một cô gái bán chiếu xinh đẹp, ông cao hứng ngâm mấy câu thơ:
Ả ở nơi nào, bán chiếu gon?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?
Xuân xanh nay độ bao nhiêu tuổi?
Đã có chồng chưa, được mấy con?
Không ngờ cô bán chiếu liền đáp lời:
Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon,
Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ,
Chồng còn chưa có, có chi con!
Có lẽ bởi yêu mến tài sắc của cô gái bán chiếu mà thi sĩ Nguyễn Trãi đã ngỏ lời cưới nàng làm thiếp.
Về thời điểm gặp gỡ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ có nhiều luồng ý kiến khác nhau, có chỗ cho rằng Thị Lộ gặp Nguyễn Trãi sau khi ông bị vua Lê Thái Tổ cầm tù và thất sủng, có chỗ lại cho rằng cuộc gặp gỡ có thể xảy ra vào năm 1406, khi Nguyễn Trãi (26 tuổi) đang làm quan nhà Hồ. Có thuyết cho rằng sự gặp gỡ giữa Nguyễn Trãi và Thị Lộ liên quan đến câu chuyện báo oán. Như Phan Huy Chú chép trong Lịch triều hiến chương loại chí: “Đời truyền rằng trong gò lớn ở làng ông có con rắn lớn. Chỗ ấy cây cối um tùm, người làng không dám chặt cây dọn dẹp, nhỡ giết phải con rắn ấy. Con rắn thành tinh ngầm mang thù oán, mới đầu thai vào Thị Lộ. Nàng sinh ra dưới sườn có vảy. Ông lúc nhỏ đi đường gặp nàng ở Vũ Lăng, yêu về tài sắc mới lấy làm vợ. Khi ông lo việc nước, những chiếu thư, từ mệnh nàng đều được dự nhuận sắc”[1]. Có nghĩa là, bà đã ở cạnh ông từ thuở tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.
Lễ nghi học sĩ
Năm 1428, sau khi cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi, phong Nguyễn Trãi tước Quan Phục hầu và cho theo họ vua. Được phong quan chức, nhưng từ đó vợ chồng Nguyễn Trãi phải đối mặt với một hiểm họa khác, đó là những mâu thuẫn phe phái trong triều đình nhà Lê. Năm 1429, Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn xảo bị khép vào tội “ngầm chứa lòng gian”. Đề thi đình năm Đại Bảo thứ ba viết: “Hãn xảo chi đồ, tiềm súc gian tâm”, nghĩa là: Bọn Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn xảo, ngầm chứa lòng gian. Nguyễn Trãi, cũng bị bắt giam một thời gian, điều này phản ánh trong bài thơ Oan thán của ông. Sau, không có chứng cứ buộc tội, ông được tha, nhưng không còn được trọng dụng như trước nữa.
Năm 1433, vua Lê Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi. Năm 1437, Nguyễn Trãi được chỉ định cùng với Lương Đăng thẩm định nhã nhạc. Mâu thuẫn nảy sinh giữa hai người, Nguyễn Trãi từ chối việc san định. Năm 1438, thấy nhà vua còn nhỏ, thích chơi hơn học, Tư Đồ đem chuyện ra bàn. Sau khi nghe Thái bảo Ngô Từ giới thiệu, Lê Sát cho đưa Nguyễn Thị Lộ vào cung làm Lễ nghi học sĩ để lo việc học tập của vua và của các cung nữ (1438). Ở cương vị mới này, bà đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, trong cuốn Đại Việt thông giám thông khảo, sử thần nhà Lê là Vũ Quỳnh (1452 – 1516) khen rằng: “Thị Lộ đã cảm hóa được Lê Thái Tông, thuyết phục vua chăm chỉ đèn sách, lại giúp vua nhiều ý kiến để sửa trị nước. Cậu bé bất trị nay đổi thành một “minh quân” khác hắn trước…”[2]. Năm 1439, Nguyễn Trãi xin nghỉ, về lại chốn cũ ở Côn Sơn.
Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Tháng bảy năm Đại Bảo thứ ba (1442), vua Thái Tôn đi tuần thú về đông. Nguyễn Trãi đón xa giá về nhà tại Côn Sơn. Xưa, người thiếp Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, học giỏi, có sắc đẹp được vua biết tiếng triệu vào triều, cho làm chức Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu cận. Khi xa giá rời Côn Sơn, về tới vườn Lệ Chi, huyện Gia Định (nay là huyện Gia Bình) thì vua mắc chứng sốt nặng. Thị Lộ hầu suốt đêm. Vua mất. Triều đình khép Thị Lộ vào tội thí nghịch. Hưu quan Nguyễn Trãi bị chu di cả họ.”[3]
Thảm án Lệ Chi Viên
Về án này, Đại Việt Sử ký toàn thư cũng chép: “Tháng 8, ngày mồng 4, vua về đến vườn Vải huyện Gia Định, bỗng bị bạo bệnh rồi băng. Trước đây, vua thích vợ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, người rất đẹp, văn chương rất hay, gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh. Đến khi đi tuần miền đông, xa giá về tới vườn Vải, xã Đại Lai, ven sông Thiên Đức, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng, các quan bí mật đưa về… Ngày 16, giết Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ, bắt tội đến ba họ”[4]. Thậm chí tác giả còn dành lời bàn rất nghiêm khắc cho Thị Lộ: “Nữ sắc mà hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?”[5]
Theo một số nhà khoa học, thủ mưu của vụ thảm án Lệ Chi Viên là Tuyên từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Anh, mẹ vua Lê Nhân Tông. Bà vốn rất căm oán Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, vì hai người đã giúp mẹ Lê Thánh Tông thoát khỏi âm mưu sát hại của bà. Tháng 7/1964, vua Lê Thánh Tông ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi nhưng không nhắc tới Nguyễn Thị Lộ.
Thảm án Lệ Chi Viên đã được tái hiện qua nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong đó, có thể kể đến vở cải lương Rạng ngọc Côn Sơn của Đoàn cải lương Trần Hữu Trang; vở chèo Oan khuất một thời của Nhà hát Chèo Hà Nội; vở kịch Bí mật Lệ Chi Viên của công ty Thái Dương (sân khấu IDECAF) từng giành được ba giải Mai Vàng (năm 2007), giải đạo diện sân khấu cho Nghệ sĩ ưu tú Thành lộc, giải nam diễn viên Kịch nói cho Hữu Châu (vai Nguyễn Trãi) và giải nữ diễn viên kịch nói cho Thanh Thủy (vai Nguyễn Thị Anh); phim tài liệu Bí mật vụ án Lệ Chi Viên từng được trình chiếu trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam; năm 2012, bộ phim Thiên mệnh anh hùng của đạo diễn Victor Vũ cũng lấy bối cảnh là 12 năm sau khi Nguyễn Trãi chết, các thế lực vương tôn tranh giành nhau, trong đó có Tuyên Từ Thái hậu.
Để tưởng nhớ vị Lễ nghi học sĩ tài sắc của một thời, đền thờ bà cùng Nguyễn Trãi được dựng ở quê bà là làng Hải Triều (nay thuộc xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), Lệ Chi Viên nơi xảy ra vụ án nổi tiếng (nay thuộc xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) và ở “góc thành nam” (nay là quận Hoàng Mai, TP Hà Nội) nơi ông bà từng sinh sống, dạy học.
Chú thích
[1] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí – Nhân vật chí, tập 1, Nxb Giáo Dục, 2005, tr. 275
[2] TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2010, tr. 155.
[3] Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2001, tr. 6.
[4] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt Sử ký toàn thư, Bản Kỷ, quyển XI, bản in Nội các quan bản mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học Xã hội, 1993, tr. 402 – 405.
[5] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt Sử ký toàn thư, Sđd, tr. 405.
Tài liệu tham khảo
- Phan Huy Chú (2005), Lịch triều hiến chương loại chí – Nhân vật chí, tập 1, Nxb Giáo Dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…(1993) Đại Việt Sử ký toàn thư, Bản Kỷ, quyển XI, bản in Nội các quan bản mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18 (1697), Nxb Khoa học Xã hội..
- Nguyễn Trãi toàn tập, Nxb Văn hóa – Thông tin, 2001.
- TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), 2010, Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa – Thông tin.
