Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Giáp Tứ là ngôi đình cổ được khởi dựng từ rất sớm trên mảnh đất có bề dày lịch sử ở phía nam kinh thành Thăng Long xưa, trước thuộc làng Giáp Tứ, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, nay là phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Khi còn hợp nhất, Thịnh Liệt có một ngôi chùa chung là chùa Sét (ở địa phận Giáp Lục) và một ngôi đình chung (ở địa phận thôn Giáp Bát) thờ Thành hoàng làng là Tam Lang Thông Đạt đại vương; sau khi tách ra thành 8 làng Giáp thì mỗi thôn xây dựng một ngôi đình vẫn thờ chung thần Tam Lang và thờ thêm những vị thần của thôn mình.
Theo các nguồn tài liệu còn lưu giữ tại di tích thì đình Giáp Tứ thờ Tam Lang Thông Đạt Đại Vương và Ngũ vị Đại Vương.
Tam Lang Thông Đạt Đại Vương vốn là con của Lạc Long Quân giáng xuống Thịnh Liệt, dân chúng cầu đảo nhiều lần thấy linh thiêng nên bản xã lập miếu thờ phụng ngài. Lý Thái Tổ thuở còn hàn vi, từ thành Hoa Lư đi lánh nạn, đến miếu này vào lúc chiều muộn thì nghỉ lại. Đêm mộng thấy thần hiện đến trước mặt nói: “Xin hết lòng phù trì cho đại vương, ngày sau tất sẽ được thiên hạ”. Đến khi Lý Thái Tổ lên ngôi bèn hạ lệnh cho tu sửa, mở mang đền miếu để thờ cúng. Trải qua các triều đại, thần đều được gia tặng sắc phong.
Ngũ vị Đại Vương, gồm: Phúc Tế Đại Vương, Hiển Liệt Đại Vương, Uy Linh Đại Vương, Thiện Khánh Đại Vương, Bảo Tín Đại Vương là những vị thần có nhiều công lao ân đức đối với đời sống tinh thần của nhân dân địa phương. Ngũ vị Đại Vương là những vị thần có công trợ giúp Lý Nam Đế đánh lui quân Lương sang xâm lược. Xưa kia mảnh đất Thịnh Liệt luôn xảy ra chiến tranh, nhờ có uy linh của các thần mà dân chúng được bình yên, vì thế dân xã Thịnh Liệt xưa lập miếu thờ phụng để tưởng nhớ đến công lao của các vị thần.
Hiện nay trong đình còn nhiều đôi câu đối ca ngợi công đức của các vị Thành hoàng, trong đó có câu:
Thánh thượng anh minh trí dũng hữu dư phù dân quốc
Thần uy quảng đại đức tài thao lược vệ sơn hà
Tạm dịch:
Thánh thượng anh minh trí dũng có thừa phò dân nước
Thần uy quảng đại, đức tài thao lược giữ non sông
Kiến trúc cảnh quan
Đình Giáp Tứ được dựng theo hướng Đông Nam trông ra hồ lớn, chếch về phía bên trái là giếng đình, qua khoảng sân khá rộng là Nghi Môn gồm 3 cổng, cổng chính dạng tứ trụ, trên đắp 4 chim phượng chụm đuôi vào nhau tạo thành chái giành cách điệu, hai cổng bên dạng chồng diêm 2 tầng 8 mái. Thân các trụ đều bổ khung ghi câu đối bằng chữ Hán, nối các trụ biểu là bức tường lửng đắp nổi đề tài tứ linh, tứ quý… Hai bên sân đình có nhà Tả Hữu mạc mỗi bên 3 gian rồi đến kiến trúc chính của đình.
Kiến trúc chính làm dạng chữ Đinh gồm Đại Bái và Hậu Cung. Đại Bái là nếp nhà 3 gian 2 dĩ, kiểu tường hồi bít đốc, mái ngói di, giữa bờ nóc đắp hình mặt trời, hai đốc mái gắn 2 đầu kìm cách điệu. Mặt bằng chia 4 hàng chân cột, bộ khung được làm bằng gỗ, gồm 4 bộ vì được làm kiểu “chồng rường giá chiêng”. Trên các gian đều treo các bức cửa võng được chạm khắc chau chuốt với các đề tài truyền thống như: tứ linh, tứ quý, vân mây, lá lật cùng nhiều hoành phi, câu đối có nội dung ca ngợi công đức của các vị Thành hoàng làng. Qua Đại Bái là Hậu Cung 3 gian xây dọc kiểu tường hồi bít đốc, mái ngói di, bộ khung gồm 4 bộ vì gỗ dạng “kèo cầu quá giang cột trốn”. Vị trí trang trọng nhất trong Hậu Cung đặt khám thờ, long ngai, bài vị, mũ áo của các vị Thành hoàng, xung quanh là các đồ thờ tự tạo sự linh thiêng cho kiến trúc. Trên các đầu dư, con rường, câu đầu, bẩy hiên và các cột hiên được chạm nổi hình lá lật, vân mây, vân dấu hỏi, hoa dây, sóng nước với những đường nét khoẻ khoắn, dung dị, nhẹ nhàng.
Hiện vật
Hệ thống di vật của di tích đa dạng về thể loại và chất liệu như đồ gỗ, đồ đồng, đồ giấy, đồ gốm sứ… Một số hiện vật có niên đại tạo tác sớm như: chuông đúc năm Đồng Khánh Đinh Hợi (1887) và bức hoành phi “An cảnh trạch dân” niên hiệu Bảo Đại Giáp Tuất (1934) còn lại phần lớn hiện vật có niên đại muộn. Hệ thống hoành phi, câu đối, cửa võng, hương án, ngai thờ, bát bửu, kiệu rước… được sơn thếp và chạm khắc tỉ mỉ, chau chuốt với nhiều đề tài trang trí như: “tứ linh”, “tứ quý”, lá lật, vân mây mang giá trị thẩm mỹ, nghệ thuật nhất định minh chứng cho quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của di tích.
Lễ hội
Hàng năm cứ đến ngày 16 tháng Hai âm lịch, dân làng Giáp Tứ lại mở hội để tưởng nhớ công đức của các vị Thành hoàng làng đối với đất nước, quê hương. Lễ hội cũng là dịp để ôn lại truyền thống đánh giặc giữ nước của tổ tiên đồng thời là một nét đẹp văn hóa trong đời sống cộng đồng hôm nay. Cũng như các lễ hội khác, sau các nghi lễ tế thần hoàng là phần hội với nhiều trò chơi dân gian truyền thống vẫn được duy trì như chọi gà, đấu vật, cò người…
Xếp hạng
Di tích đã được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng theo Quyết định số 5084/QĐ-UBND ngày 13/11/2006 là di tích lịch sử – nghệ thuật.
Tham khảo
TS Nguyễn Doãn Tuân (Chủ biên), 2010, Di tích lịch sử văn hóa quận Hoàng Mai, Nxb Văn hóa Thông tin.