Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Đồng Quan, tên chữ Bảo Quang tự thuộc địa phận xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; mảnh đất có truyền thống cách mạng, bề dày lịch sử, hiếu học. Chùa nằm sát khu dân cư, trên khoảng đất rộng, cao ráo với diện tích 5541m2.
Kiến trúc cảnh quan
Theo bia ký minh chuông chùa Bảo Quang tạo năm Diên Thành thị trước kia chùa là danh lam nổi tiếng, xếp hàng thứ 13 trong quận. Chùa có quy mô lớn, gồm 01 tòa thượng điện, 3 gian tiền đường, 3 gian thiêu hương, 7 gian hậu đường. Do thời gian và biến cố lịch sử, chùa Đồng Quan đến nay không còn được nguyên trạng, hiện tại chỉ còn tòa tiền đường, gian Phật điện kiểu chữ Đinh, sau là nhà tổ, nhà khách mới được nhân dân trùng tu, tôn tạo. Đây là một trong số ít các công trình kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn văn hóa Mạc cuối thế kỷ XVI còn lại trên đất Hải Phòng.
Mặt chính của chùa quay về hướng Nam, cảnh quan xung quanh còn di tích của một số rặng chuối cổ thụ cùng dấu vết ngôi đình thờ hai vị thành hoàng họ Phạm và miếu thờ bản địa. Do thời gian và biến cố lịch sử giữa hai triều Lê – Mạc, chùa Đồng Quan không còn được nguyên trạng nhưng hiện tại vẫn còn toà tiền đường, gian Phật điện kiểu chữ “đinh” (J) và nếp nhà tổ hình chữ “nhất” (-). Ở phía sau toà tam bảo 3 gian gác chuông, xây kiểu chồng diêm nóc cái cao 7m (đã được tháo dỡ trong kháng chiến chống Pháp) vẫn còn nhận rõ chân móng. Chùa được kết cấu bởi 6 hàng vì kèo, tạo thành ba gian hai chái. Đây là một trong số ít các công trình kiến trúc tôn giáo mang dấu ấn văn hoá Mạc cuối thế kỷ XVI trên đất Hải Phòng.
Lịch sử và nhân vật
Chùa Đồng Quan được khởi công xây dựng năm Sùng Khang (1572), đời vua Mạc Mậu Hợp, vị vua thứ 5 của vương triều Mạc (căn cứ vào tấm bia còn lưu giữ trong nội thất của chùa). Theo nhân dân địa phương, người có công đầu hưng công khởi dựng ngôi chùa Đồng Quan (Bảo Quang Tự) quy mô lớn là hai bố con vị thành hoàng làng Phạm An Khê và Phạm Viết Kính cùng Thái Hoàng, Thái Hậu nhà Mạc, các thân vương, phật tử địa phương xây dựng. Nghe nói nguyên vật liệu để xây chùa như: gỗ, đá được vận chuyển từ kinh đô Thăng Long về bằng đường sông và tập kết tại phía Đông Nam làng Đồng Quan. Ngoài ra còn có sự hưởng ứng của đông đảo thiện nam tín nữ thập phương. Vì thế cái tên địa danh “Xóm Xưởng” xuất hiện lúc đó vẫn tồn tại đến bây giờ. Tương truyền, để xây dựng được ngôi chùa có quy mô lớn như vậy, mọi vật liệu như gỗ, đá đều được chuyển theo đường sông từ tận kinh đô Thăng Long về.
Hiện vật
Trong chùa, tại Phật điện, nơi thiêng liêng nhất, trang trọng nhất dành để Đức Phật ngự gồm 4 hàng tượng là những pho tượng Phật được tạc rất công phu và là những tác phẩm điêu khắc có giá trị tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển của lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Vị trí cao nhất là Bộ tượng Tam Thế. Tiếp theo là hàng tượng A di đà, hàng tượng Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu. Dưới cùng là Tòa Cửu Long và Thích ca sơ sinh. Hai bên Tòa Tam Bảo là Bộ Thập Điện Minh Vương gồm 10 pho tương tự nhau. Tượng cao 1,05m, chất liệu đất, đầu đội mũ bình thiên trong tư thế thiết triều. Tượng có khuôn mặt nữ hiền từ, mặc áo cà sa hở ngực, mang dáng dấp của tượng Quan Âm đầy vẻ từ bi. Đây là nhóm tượng thuộc thế kỷ XVIII, mang phong cách tạc của thợ Bảo Hà (xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo).
Bên cạnh những tượng chính tại Phật điện, chùa Bảo Quang còn nhiều tượng khác rất độc đáo. Đó là pho tượng Đức Tam Tổ Huyền Quang được thờ tại gian hữu quan tòa tiền đường, mang dáng dấp của tượng Bồ Tát xá tịnh thường gặp trong các chùa như tượng Át Nan Đà, Địa Trang Bồ Tát. Từ trang phục mũ, áo cà sa, vẻ mặt phảng phất giống Đức Đường Tăng trong thiên truyện Tây Du Ký. Tượng có vẻ mặt đẹp, đầy viên mãn, mang nét nữ tính, trầm tư, hiền dịu. Đây là pho tượng kế thừa được phong cách nghệ thuật điêu khắc tượng Phật triều Mạc, thế kỷ XVI. Việc thờ Huyền Quang ở chùa Đồng Quan – một trong 3 vị tổ của thiền phái Trúc Lâm thời Trần cho phép khẳng định: Vào thời Trần thế kỷ XIII, ở thôn Đồng Quan đã có chùa thờ Phật, là cơ sở hành pháp của tăng phái Trúc Lâm. Trên cơ sở của ngôi chùa làng ban đầu, đến thời Mạc các thân vương, quý tộc, công chúa đã bỏ tiền của cùng dân làng xây lại ngôi chùa có quy mô lớn như bài văn bia hiện còn đã miêu tả.
Đặc biệt hai gian hồi đốc đặt 2 tượng Hộ Pháp. Đó là hai pho tượng nằm trong chư vị kim cương bảo vệ Phật pháp, răn dạy phật tử tránh làm điều ác, khuyến khích mọi người làm việc thiện. Cả hai pho này đều có kích thước lớn (cao 2.8m), xấp xỉ tượng Hộ Pháp ở chùa Thầy (Sơn Tây). Tượng thể hiện một võ tướng nhưng vẻ mặt rất hiền lành, cương nghị. Với phong cách thể hiện tượng và đồ án trang trí rồng trên giáp trụ cho thấy niên đại của tượng vào khoảng đầu thế kỷ XVIII. Đây là một trong những pho tượng Hộ Pháp bằng đất có niên đại sớm nhất ở nước ta hiện nay.
Không chỉ vậy, hiện ở chùa Đồng Quan còn lưu giữ được 2 tấm bia đá, tất cả đều là bia gốc, trong đó có 1 tấm văn bia quý giá, tên chữ là “Bảo Quang Tự Chung Bi Ký” (Bia ký chuông chùa Bảo Quang). Bia dẹt, cao 1.2m, ngang 0.68m, dày 0,16m. Trán bia hình bán nguyệt, chính giữa chạm rồng chầu mặt nguyệt. Ngăn giữa trán bia và thân bia là một đường chỉ viền, trên khắc tên bia trang trí vân áng với hàng chữ “Hoàng Đế Vạn Tuế”, phía dưới hàng chữ ghi danh sách các tín chủ, tín thí, người chủ chốt đứng lên xây chùa và những người tiến cúng tiền, của.
Phần trang trí diềm tấm bia theo dõi băng hoa dây uốn lượn mềm mại, với những cánh sen nổi, nhỏ tiếp nhau. Bài văn bia viết bằng chữ Hán, nét chữ rõ ràng, tinh tế, gồm trên 50 dòng chữ, dòng nhiều nhất là 39 chữ, dòng ít nhất là 3 chữ. Niên đại của bia là năm Diên Thành – Năm Mậu Dần (1578) ngày 10, tháng 04 dựng bia. Người soạn văn bia là Tiến sĩ cập đệ đỗ năm Bính Thin (1556), quan hạch đại phu Tả Thị Lang Bộ Công, kiêm Đông các Đại học sĩ Hồng Phúc Tùng Lâm Viện Đỗ Uông, hiệu Đại phu. Ông người làng Đoàn Lâm huyện Gia Lộc, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương, làm quan đến chức Thượng Thư Bộ Lại, sau được phong đến Phúc Thần.
Nội dung văn bia có lời minh và lời trần thuật việc xây dựng chùa Bảo Quang, việc đúc quả chuông, cùng danh sách các tín chủ, tín thí cúng tiến tiền, của vào việc công đức. Trong đó có đoạn viết: “Chùa Bảo Quang là danh lam nổi tiếng, đẹp nhất xứ Hồng Kỳ… Nam Quân Đô Đốc phủ, Tả Đô Đốc, Kỳ Quận Công được sắc tứ là An Khê sĩ thừa hưởng phúc lành của Thái Hoàng, Thái Hậu, đứng ra cưu công xây một tòa thượng điện, ba gian tiền đường, ba gian thiêu hương, bảy gian hậu đường vào tháng bảy, năm Sùng Khang thứ 7”.
Tấm bia thứ hai là bia “Hậu Phật Bia Ký”. Bia cao 1,8m, rộng 0.46m, nhiều chữ đã bị mở. Sau chùa là hai ngôi bảo tháp chứa hài cốt hai vị sư tổ. Đó là tháp Quang Minh và tháp Hiển Linh (tự là Thanh Ti và Thanh Chân). Hai bảo tháp có quy mô vừa phải, cao 0.75m, có khắc tên hiệu hai vị sư tổ vào một cạnh tháp.
Xếp hạng
Với những quang cảnh và di vật trên, chùa Đồng Quan được coi là di sản văn hoá phản ánh tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo của địa phương Đồng Quan (Dũng Tiến) nói riêng. Chùa đã được Bộ Văn hoá thông tin ra quyết định xếp hạng Di tích Lịch sử Văn hoá ngày 4/8/1992.
Tài liệu tham khảo
- Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng, 2017.
__________________
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Dong Quan Pagoda, formally Bao Quang Tu, stands in Dung Tien commune, Vinh Bao district, Hai Phong city—an area renowned for its revolutionary tradition, long history, and love of learning. The pagoda adjoins a residential hamlet on high, spacious ground covering 5,541 m².
Architecture and Landscape
According to the bell–stele inscription of Bao Quang Pagoda dated to the Dien Thanh era, the site was once a famed scenic spot, ranked 13th in the district. The historical complex was expansive: one Upper Hall (Thuong Dien), three-bay Fore Hall, three-bay Incense–Offering Hall, and seven-bay Rear Hall. Owing to time and upheavals, Dong Quan Pagoda no longer survives intact; today the remaining elements are the Fore Hall, a Đinh-plan Buddha Hall, and, behind, the Ancestral Hall and Guest House—recently restored by villagers. This is among the few late–16th century Mac–period religious structures preserved in Hai Phong.
The main façade faces south. Around it remain traces of old banana groves, the former communal temple (dedicated to two thanh hoang of the Pham clan), and a local shrine. Though altered by the Lê–Mac conflicts, the site still retains the Fore Hall, the “Đinh (J)”-plan Buddha Hall, and a “Nhat (—)”–plan Ancestral House. Behind the Tam Bao, foundations of a former three-bay bell tower (tiered roof, main ridge ~7 m high, dismantled in the anti-French war) are visible. The frame employs six rows of trusses forming three bays with two lean-tos—typical of Mac–era religious architecture in Hai Phong.
History and Figures
Construction began in Suong Khang year (1572), under King Mac Mau Hop (the fifth Mac ruler), as recorded on a surviving interior stele. Local tradition credits the principal patrons as the village tutelary heroes Pham An Khe and Pham Viet Kinh (father and son), together with the Mac Grand Empress Dowager, Mac princes, and local devotees. Timber and stone were reportedly shipped by river from the capital Thang Long and stockpiled southeast of Dong Quan village—hence the toponym “Xom Xuong” (“Workshop Hamlet”), still in use.
Artefacts
Within the sanctum, four tiers of images are arranged with care—masterpieces representative of a key phase in Vietnamese art history: at the top the Tam The (Three Times Buddhas); below them the Amitabha triad; then the Jade Emperor with the Southern and Northern Dipper deities; and, at the base, the Nine Dragons throne with the Infant Shakyamuni. Flanking the Tam Bao is the Ten Kings of the Underworld set (10 similar clay figures, 1.05 m high), each wearing a flat-topped court hat in audience pose; their faces are gentle, kasaya open at the chest, with a compassionate Avalokitesvara-like style—an 18th-century set attributed to the Bao Ha sculptor school (Dong Minh commune, Vinh Bao).
Other notable pieces include a statue of the Third Patriarch Huyen Quang in the right bay of the Fore Hall, with features reminiscent of ascetic bodhisattva types (e.g., Ananda, Ksitigarbha). The visage is serene and full, with refined, slightly feminized modeling—an heir to Mac–dynasty (16th c.) Buddhist sculpture. The cult of Huyen Quang here suggests that as early as the 13th century (Tran dynasty) Dong Quan already housed a Truc Lam practice site; on that foundation, Mac princes and nobles later rebuilt the large complex described in the stele text.
In the rear corner stand two large Guardian Kings (each ~2.8 m high), akin to those at Thay Pagoda (Son Tay): armored warrior figures with resolute yet kindly expressions. Dragon-motif armor and the sculptural style indicate an early-18th-century date—among the earliest large clay Guardian Kings in Vietnam.
The pagoda preserves two original stone stelae. The first, the precious “Bao Quang Tu Chung Bi Ky” (Bell–Stele Inscription), is a thin slab (H 1.20 m × W 0.68 m × T 0.16 m) with a half-round tympanum carved with “dragons flanking the moon,” header “Huang Di Wan Sui,” and donor lists. Its floral border features small raised lotus petals. The Han-script inscription (50+ lines; longest 39 characters) dates to Dien Thanh year Mau Dan (1578), erected on the 10th day of the 4th month. The text was authored by Doctorate Laureate Do Uong (passed the cập đệ exam in Binh Thin 1556), then Vice Minister of Public Works and Hanlin Academician, later Minister of Personnel, posthumously enfeoffed as a tutelary deity; he was from Doan Lam village, Gia Loc district, Ha Hong prefecture, Hai Duong. The inscription recounts building the pagoda, casting the bell, and donor rosters, praising Bao Quang as “a famed scenic site, the finest in Hong Ky,” and noting that “Left Commander, Marquis of Ky—titled An Khe Si—under the blessings of the Grand Emperor and Grand Empress Dowager—built the Upper Hall, three-bay Fore Hall, three-bay Incense Hall, and seven-bay Rear Hall in the 7th Suong Khang year (7th lunar month).”
The second stele, “Hau Phat Bia Ky,” is 1.8 m × 0.46 m (partly eroded). Behind the pagoda stand two modest reliquary stupas—Quang Minh and Hien Linh—housing the remains of two patriarchs (secular names Thanh Ti and Thanh Chan).
Recognition
For its landscape and artefacts, Dong Quan Pagoda is recognized as a cultural heritage site reflecting local religious life in Dong Quan (Dung Tien). It was designated a National Historical–Cultural Monument by the Ministry of Culture and Information on 4 August 1992.
Reference
Ancient Pagodas of Hai Phong, vol. 2, Hai Phong Publishing House, 2017.
2. Tiếng Pháp (Français)
Nom et Situation Géographique
La Pagode Dong Quan, nom scriptural Bao Quang Tu, se situe dans la commune de Dung Tien, district de Vinh Bao, ville de Hai Phong—terre de traditions révolutionnaires, d’histoire et d’étude. Édifiée au bord d’un hameau, elle occupe un terrain élevé et spacieux de 5 541 m².
Architecture et Paysage
D’après la stèle-cloche datée de l’ère Diên Thanh, la pagode figurait jadis parmi les sites renommés, classée 13e du quận. Le complexe était vaste : un Thuong Dien (Grand sanctuaire), une salle avant à trois travées, une salle des parfums (trois travées) et une salle arrière à sept travées. Les vicissitudes du temps et de l’histoire ont altéré l’ensemble ; subsistent aujourd’hui la salle avant, une salle bouddhique au plan en Đinh, ainsi que la Maison ancestrale et la Maison d’hôtes restaurées. L’édifice compte parmi les rares architectures religieuses du Hai Phong portant l’empreinte Mac de la fin du XVIe siècle.
La façade regarde le sud. Demeurent des vestiges de bosquets de bananiers, l’ancien đình dédié à deux génies tutélaires du clan Pham, et un oratoire local. On distingue encore, derrière le Tam Bao, les fondations d’un clocher à trois travées (toit à étages, faîtage ~7 m, démonté durant la guerre d’Indochine). La charpente comporte six files de fermes formant trois travées et deux appentis—typique du style Mac.
Histoire et Personnages
La construction débuta en l’an Suong Khang (1572) sous Mac Mau Hop, cinquième souverain de la dynastie Mac, comme l’atteste une stèle. La tradition attribue l’initiative à deux héros tutélaires, Pham An Khe et Pham Viet Kinh (père et fils), ainsi qu’à la Grande Impératrice douairière des Mac, à des princes et aux fidèles locaux. Bois et pierre auraient été acheminés par voie fluviale depuis Thang Long et entreposés au sud-est du village, d’où le toponyme « Xom Xuong » (“hameau des ateliers”).
Objets
Le sanctuaire principal aligne quatre niveaux d’images, œuvres majeures d’une période clé de l’art vietnamien : Tam The (Trois Bouddhas des Temps) ; triade d’Amitabha ; Empereur de Jade avec les divinités des Constellations du Sud et du Nord ; au bas, Trône des Neuf Dragons et Bouddha Shakyamuni nouveau-né. De part et d’autre du Tam Bao : les Dix Rois des Enfers (10 statues en argile, 1,05 m, coiffées du bonnet binh thien, en posture d’audience) au visage bienveillant, robe monastique entrouverte—ensemble XVIIIe s., attribué à l’école des sculpteurs de Bao Ha (commune Dong Minh, Vinh Bao).
On note encore la statue du troisième patriarche Huyen Quang (baie droite de la salle avant), au type bodhisattvique ascétique (rappelant Ananda, Ksitigarbha), visage serein, modelé raffiné—héritage de la sculpture bouddhique Mac (XVIe s.). Ce culte atteste l’existence, dès le XIIIe siècle (Tran), d’un foyer de pratique Truc Lam à Dong Quan, sur lequel les Mac édifièrent plus tard un vaste complexe.
Deux grandes statues des Rois Gardiens (≈2,8 m), comparables à celles de la Pagode Thây, datent stylistiquement du début du XVIIIe siècle—parmi les plus anciennes statues gardiennes en argile du pays.
Deux stèles originales sont conservées. La première, « Bao Quang Tu Chung Bi Ky » (stèle-cloche), plaque mince (H 1,20 m × L 0,68 m × e 0,16 m) : tympan semi-circulaire aux « dragons flanquant la lune », en-tête « Hoang De Van Tue » et listes de donateurs. L’inscription en caractères chinois (50+ lignes) fut gravée en l’an Diên Thanh, année Mau Dan (1578), le 10e jour du 4e mois ; texte rédigé par Do Uong, lauréat (1556), alors vice-ministre des Travaux publics et académicien, originaire de Doan Lam (Gia Loc), plus tard ministre du Personnel, divinisé après sa mort. La stèle loue « Bao Quang, site célèbre, le plus beau du pays Hong Ky » et précise les bâtiments élevés en Suong Khang 7 (7e mois).
La seconde stèle, « Hau Phat Bia Ky », H 1,8 m × L 0,46 m (texte en partie effacé). À l’arrière : deux stupas-reliquaires Quang Minh et Hien Linh (noms séculiers Thanh Ti, Thanh Chan).
Classement
La Pagode Dong Quan, reflet exemplaire des croyances locales de Dong Quan (Dung Tien), a été classée Monument Historique et Culturel National le 4 août 1992 (ministère de la Culture et de l’Information).
Référence
Pagodes anciennes de Hai Phong, vol. 2, Éditions Hai Phong, 2017.
3. Tiếng Trung (中文)
名称与地理位置
同关寺,字名「宝光寺」,位于海防市永保县勇进社。寺院邻近民居,地势高爽,占地5,541平方米。此地历来以革命传统、历史渊源与崇文尚学著称。
建筑与景观
据「宝光寺钟碑记」载,寺昔为名胜,列本郡第十三位。旧制规模宏阔:上殿一座,前殿三间,烧香殿三间,后殿七间。因岁月与史变,同关寺已非原貌;今仅存前殿、呈「丁」字形的佛殿,其后为祖堂与客堂,皆由民众近年修葺。此为海防地区稀见之十六世纪末莫代宗教建筑遗存。
寺南向。周边留有古蕉行列、祠庙与社祀遗迹。虽历黎—莫之变,尚存前殿、「丁(J)」形佛殿与「一(—)」形祖屋。三宝殿后旧有三间钟楼(重檐叠顶,脊高约7米,抗法时期拆除)之基址犹存。整体以六排梁架成三间两厦,具莫式宗教建筑特征。
历史与人物
据存碑,同关寺始建于崇康年间(1572),时在莫茂洽(王朝第五君)在位。乡传其倡建者为本邑城隍阎官范安溪、范曰敬父子,并得莫朝太皇太后、诸王与善信襄助。木石材料多自京师升龙水运至同关村东南堆场,因而地名「坊厂」沿称至今。
文物
佛殿内按层布列四重主尊,雕造精湛,代表越南美术一段重要发展期:上层为三世佛,其次为阿弥陀三尊,再下为玉皇与南斗北斗,最下为九龙座与释迦初生像。三宝殿两侧置十殿阎王组像(泥塑十尊,高1.05米,戴平天冠,朝会姿),面相慈和、袈裟胸前敞开,具观音式悲悯风格——十八世纪作,归属保河(永保县东明社)匠人流派。
另有三祖玄光像(前殿右翼),形制近似声闻、地藏等苦行菩萨类型,容貌端凝、塑法细腻,承袭十六世纪莫代佛像风格。其在同关受祀,说明至迟十三世纪陈朝时,同关已有竹林禅修行据点;其后莫朝王公贵族与乡人于旧址扩建大寺,正如碑文所述。
后部两尊护法力士(各约2.8米)体量宏伟,与山西师寺相近;甲胄龙纹与造型风格可断为十八世纪初期之作,为国内现存年代较早的大型泥塑护法群。
寺存两块原碑:其一为珍贵的「宝光寺钟碑记」,通高1.20米、宽0.68米、厚0.16米,半圆额饰「二龙戏月」,额题「皇帝万岁」,下列功德与施主名录。碑额与碑身间以线纹分隔,边框饰缠枝花与小莲瓣。全文汉字五十余行(最长39字,最短3字),纪年延成年戊寅(1578)四月初十立。撰文者为丙辰(1556)科进士都旺,曾任工部左侍郎兼东阁大学士,后迁吏部尚书,卒封福神,籍贯海阳镇下鸿府嘉禄县团林社。碑记述建寺、铸钟与捐募详情,并称「宝光名胜,鸿旗之最」,记 Suong Khang 七年七月所成之上殿、前殿三间、烧香殿三间、后殿七间等。
其二为「后佛碑记」,高1.8米、宽0.46米(多字磨灭)。寺后有两座舍利塔:光明塔、显灵塔(俗名清思、清真),尺度中等,高约0.75米,塔身刻其号。
级别认定
凭其景观与遗物,同关寺被视为反映勇进同关地域宗教心理与信仰之文化遗产。1992年8月4日获文化信息部公布列为国家级历史文化遗迹。
参考资料
《海防古寺》第二卷,海防出版社,2017年。