Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Phương Độ tọa lạc tại trung tâm thôn Phương Độ, xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, cách trung tâm thành phố Thái Nguyên khoảng 20km về hướng Đông Nam. Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Nam của tỉnh, phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ, phía Tây giáp thành phố Thái Nguyên, Sông Công và thị xã Phổ Yên, phía Đông và phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc trung du – miền núi Đông Bắc là mảnh đất có truyền thống cách mạng, trong đó có trong đó có di tích lịch sử văn hóa đình Phương Độ là một trong những di tích tiêu biểu của tỉnh Thái Nguyên.
Đình là nơi thờ Dương Tự Minh, một viên tướng thời nhà Lý, đã từng góp công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống, thế kỷ XI, được dân làng tôn phong làm Thành Hoàng làng.
Lịch sử và nhân vật
Đình Phương Độ nằm ngay giữa làng Phương Độ, một làng cổ thuộc tổng La Đình, huyện Tứ Nông, phủ Phú Bình, nay là xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Hiện nay, chưa có tài liệu nào xác định chính xác thời gian xây dựng đình Phương Độ. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu, đình được xây dựng sau khi người dân từ nhiều vùng khác nhau tụ cư, khai hoang và lập nên làng Phương Độ. Dựa vào các đặc trưng kiến trúc của đình, có thể xác định rằng công trình này được xây dựng vào thời Lê.
Xưa kia đình Phương Độ nằm ở giữa làng, hai Nghè ở hai bên, cách đình khoảng 500m. Nhưng trải qua quá trình bồi lấp và sạt lở của lòng sông, đến năm 1903, dân làng Phương Độ chuyển đình về vào sâu bên trong và ở vị trí như ngày nay.
Ngôi Đình không chỉ là nơi thờ tự, mà còn là cơ sở cách mạng kháng chiến chống Pháp, vào tháng 8 năm 1945, đình được lựa chọn làm nơi tổ chức lễ tế cờ, chào mừng thành công của cuộc cách mạng tháng tám.
Đình Phương Độ là một di tích lịch sử văn hóa quan trọng tại tỉnh Thái Nguyên, gắn liền với những biến cố lịch sử từ thời khai hoang mở đất ở vùng đất Xuân Phương ngày nay. Ngôi đình không chỉ là niềm tự hào của người dân Phú Bình mà còn đặc biệt được coi trọng bởi cộng đồng làng Phương Độ.
Dương Tự Minh
Hiện chưa rõ chính xác năm sinh và năm mất của ông, nhưng phần lớn các tài liệu đều ghi nhận, ông sống và hoạt động trong khoảng nửa đầu thế kỷ XII.
Dương Tự Minh, thuộc dân tộc Tày, quê gốc ở Quan Triều, phủ Phú Lương (nay thuộc phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên).
Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển IV có chép:
“Mùa đông tháng 10 sai thủ lĩnh Phú Lương là Dương Tự Minh đến châu Quảng Nguyên để chiêu tập người châu ấy”
“Mùa thu tháng 8, xuống chiếu cho Dương Tự Minh cai quản các công việc khe động dọc biên giới về đường bộ”
“Giáp Tý [Đại Định] năm thứ 5 [1144] , (Tống Thiệu Hưng năm thứ 14). Gả công chúa Thiều Dung cho Dương Tự Minh, phong Tự Minh làm Phò mã lang.
“Tháng 8, kẻ có yêu thuật người nước Tống là Đàm Hửu Lượng trốn sang châu Tư [5a] Lang638 , tự xưng là Triệu tiên sinh639 , nói dối là vâng lệnh đi sứ để dụ nước An Nam640 … Các khe động ở dọc biên giới nhiều người theo. Hữu Lượng bèn đem đồ đảng đến cướp châu Quảng Nguyên. Bấy giờ Kinh lược suý ty lộ Quảng Tây nước Tống đưa thư nhờ đuổi bắt Hữu Lượng. Vua xuống chiếu cho Phò mã lang Dương Tự Minh và văn thần là Nguyễn Nhữ Mai, Lý Nghĩa Vinh đi đánh. Không bao lâu lại sai Thái sư Mâu Du Đô đem quân các khe động dọc biên giới về đường bộ tiếp đánh. Khi ấy Tự Minh đã lấy được ải Lũng Đổ, châu Thông Nông641 bắt được bè đảng của Hữu Lượng và bọn Bá Đại 21 người, duy có Hữu Lượng chạy thoát, trốn vào núi chằm. Xuống chiếu cho Quản quân sứ là [Lý] Nghĩa Vinh trông coi áp giải bọn Bá Đại giao trả về nước Tống. Trước đó Ung Châu làm cáo sắc giả sai người đi gọi Hữu Lượng, Hữu Lương cho là thực, cùng với bọn thủ lĩnh châu Tự Minh hơn 20 người mang ấn đồng, địa đồ và vật thổ sản quy phụ nhà Tống. Khi đến [5b] trại Dương Sơn, viên thủ Ung Châu là Triệu Nguyệt bắt Hữu Lượng và bè đảng giải đến suý ty. Người Tống thấy trong bọn ấy có Dương ở ngực có thích hình rồng đen, và bọn thủ lĩnh ở châu Bồ năm người, biết là người nước Việt ta, đều trả về”.
Dương Tự Minh cũng được cuốn Khâm định sử thông giám cương mục của Quốc Sử quán triều Nguyễn nhắc đến:
“Tháng 2, mùa xuân. Gả công chúa Thiều Dung cho Dương Tự Minh. Tự Minh là thủ lĩnh phủ Phú Lương, vâng mạng đi chiêu an những người trong châu Quảng Nguyên, rồi được cai quản các khê động ở nơi biên giới; đến đây, lấy công chúa, được phong phò mã lang”.
“Khi nhà vua mới lên ngôi, không cứ việc lớn hay nhỏ, đều do Anh Vũ quyết định cả. Hắn ra vào nơi cung cấm, tư thông với Lê Hậu2 . Nhân thế, Anh Vũ lại càng kiêu rông: Ở triều đình hắn vén tay, quát tháo, chỉ huy người bằng cách hất hàm, sai bảo người bằng khí sắc. Mọi người đều hé mắt sợ sệt, không ai dám nói gì. Bọn Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái cùng với bọn Trí Minh vương (không rõ tên), Bảo Ninh hầu (không rõ tên) và Phò mã lang Dương Tự Minh mưu bắt giam Anh Vũ”.
Từ hai nguồn tư liệu trên, có thể thấy cuộc đời và sự nghiệp của ông không chỉ là biểu tượng của lòng yêu nước mà còn là hình mẫu về tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc trong buổi đầu xây dựng quốc gia Đại Việt.
Với vai trò là thủ lĩnh phủ Phú Lương, Dương Tự Minh đã đóng góp to lớn trong việc đoàn kết các dân tộc để đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia. Những thành tích này chứng minh vị trí đặc biệt của ông trong triều đại Lý.
Hiện nay, có đến 102 di tích (đền, đình, nghè, miếu) thờ Dương Tự Minh, nổi bật như Đền Đuổm (huyện Phú Lương), Đình Hộ Lệnh (huyện Phú Bình), Đình Đông (huyện Phú Bình),… Bên cạnh đó, trên địa bàn các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh còn nhiều di tích, truyền thuyết và lễ hội gắn liền với tên tuổi ông, đặc biệt tập trung ở tỉnh Thái Nguyên. Đây là những di sản văn hóa quan trọng, cần được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị.
Truyền thuyết về Dương Tự Minh
Truyện Sự tích đền Thượng núi Đuổm, Dương Tự Minh giết được con hổ thành tinh chuyên ăn thịt người trên núi Cấm, trừ họa cho nhân dân trong vùng. Xây dựng chi tiết Dương Tự Minh diệt hổ, nhân dân muốn gửi gắm vào đó khát vọng về người anh hùng, chiến thắng mọi lực lượng thù địch, cho dù đó là con người hay tự nhiên để bảo vệ cuộc sống bình yên.
Tương truyền về giếng Dội là truyện kể về nguồn gốc của giếng Dội. Dương Tự Minh thật hạnh phúc vì có người vợ thủy chung, tri kỷ như công chúa Thiều Dung. Nàng đã tự nguyện hóa thành dòng nước mát để vùng đất nơi chồng yên nghỉ luôn xanh tươi sự sống của cỏ cây, hoa lá, mang lại ân tình to lớn cho nhân dân nơi đây. Sự tích ao chuông lăn và Sự tích hang Sữa cũng giải thích tên những địa danh gắn với Dương Tự Minh và vợ của ông.
Truyện Tại sao gọi là sông Giang Tiên lại lý giải về tên gọi dòng sông nhỏ bắt nguồn từ đất Phú Lương chảy nhập vào sông Cầu. Từ một dòng sông hung dữ trở thành một dòng sông hiền hòa. Tên dòng sông đã được truyền thuyết hóa gắn với nhân vật Dương Tự Minh. Nhân dân giải thích sự biến đổi của dòng sông là do Dương Tự Minh đã xuống sông tắm. Dương Tự Minh đã được nhân dân thần thánh hóa thành vị tiên và vị tiên ấy đã làm thay đổi một con sông.
Trong tâm thức dân gian, Dương Tự Minh được tôn vinh như một vị anh hùng văn hóa, thủ lĩnh tinh thần, biểu tượng của lòng yêu nước và độc lập dân tộc.
Sự kính trọng của cộng đồng không chỉ thể hiện qua việc ca ngợi tên tuổi, sự nghiệp của ông trong các thần tích, thần phả, hoành phi, câu đối tại các đền, đình thờ ông, mà còn qua những huyền thoại dân gian. Những câu chuyện này không chỉ giải thích nguồn gốc địa danh mà còn làm nên sức sống bền vững của truyền thuyết về ông, nâng tầm Dương Tự Minh thành biểu tượng anh hùng, được nhân dân thần thánh hóa.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Phương Độ nằm gần bờ sông Cầu, trong một khu vực đông dân cư, với cảnh sắc sông nước. Hướng của đình quay phía Tây, trước cổng đình là ao bán nguyệt. Ngôi đình mang kiến trúc độc đáo thời Lê, được xây dựng với hệ thống cột cái, cột quân, xà… đều làm bằng gỗ lim, và các nguyên liệu chủ yếu là nguyên liệu ít bền vững như: gỗ, gạch, ngói…
Hiện nay, đình Phương Độ gồm những công trình chính như Cổng, và Đại Đình.
Cổng
Cổng đình Phương Độ được xây theo kiểu tam quan, gồm ba cổng. Cổng chính ở giữa có kích thước lớn nhất, được chia thành ba tầng, mỗi tầng thu nhỏ dần về phía trên. Lối vào tầng một ở cổng giữa mang hình dáng mái vòm, tầng hai có cửa ra vào hình chữ nhật đứng, còn tầng ba trên cùng được thiết kế với cửa uốn vòm.
Hai cổng phụ ở hai bên có kích thước nhỏ hơn, xây kiểu một tầng trụ, thấp hơn so với cổng chính. Cổng Tam Quan đình được trang trí tinh xảo với các dòng chữ Hán, lá sen, hồi văn, cùng mái lợp ngói ống, các đầu đao uốn cong hình rồng, trên đỉnh cổng có gắn búp sen được gắn trên đài sen, mang đậm nét văn hóa và tín ngưỡng dân gian. tạo nên vẻ uy nghiêm cho ngôi đình.
Sau Cổng Tam Quan là tấm bình phong lớn xây đơn giản, bên trong trang trí tứ linh (Long-Ly-Quy-Phượng)
Đại Đình
Toà Đại Đình gồm 3 gian hai chái, với cấu trúc gồm 48 cột, các cột và hầu hết các vật liệu làm đình đều làm bằng gỗ lim. Phần khung gỗ làm kiểu giá chiêng, các bộ vi chính của đình đều làm theo kiểu tiền kẻ, hậu bảỵ. Các trụ, xà, đấu gỗ liên kết các thành phần kiến trúc chắc chắn, được trang trí theo các hình thức chạm khắc nổi, chạm nét bong kênh hình tứ linh (long, lỵ, quỵ, phượng) và hình hoa lá cách điệu rất sống động. Đây là nét nghệ thuật tiêu biểu của thời Lê.
Gian chính của đình, là nơi đặt điện thờ, phía trước là hương án trang trọng, bày biện các đồ thờ cúng, hai bên đặt bộ bát bửu. Các gian đều có cửa võng được sơn son thiếp vàng, ngoài ra Kiệu, bát hương, mâm ấn, hương án… đều được trang trí và được trạm trổ những nét hoa văn tinh tế. Phía bên trong Nội Cung, là nơi thờ chính, có tượng đức thánh Dương Tự Minh tạc bằng gỗ hình nổi.
Bên tả và bên hữu của bàn hương án là bộ “Hạc đứng lưng Quy”, thể hiện cho sức mạnh và sự chiến thắng.
Bộ mái đình được lợp bằng ngói mũi hài, bốn góc mái là bốn đầu đao uốn cong, trên nóc mái đình được trang trí theo kiểu “Lưỡng long chầu nguyệt” .
Bên cạnh đó, hình tượng tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng) cùng những yếu tố thiêng liêng gắn liền với trang trí này đã tạo nên một hệ thống biểu tượng nghệ thuật có giá trị cao và tính nhân văn sâu sắc.
Ngoài ra, trong đình còn có một dãy nhà ba gian, dùng để tiếp đón khách và chuẩn bị các lễ vật cho các nghi thức trong đình.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đình làng Phương Độ không chỉ là một trong những lễ hội lớn nhất của huyện Phú Bình mà còn là lễ hội duy nhất trong khu vực được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Lễ hội được tổ chức nhằm tôn vinh các vị thần linh và thể hiện những khát vọng của con người.
Hằng năm, nhân dân Phương Độ mở hội vào ngày rằm tháng Giêng, mùng 4 tháng Tư và mùng 10 tháng Mười Âm lịch…
Lễ hội được tổ chức với hai phần chính đó là phần lễ và phần hội:
Phần lễ sẽ được ban tổ chức họp phân công nhiệm vụ cho các xóm đăng cai sẽ chọn ra 54 thanh niên để tiến hành rước kiệu. Tiếp theo là công tác rước kiệu, hai kiệu sẽ được rước từ đình, đi ra hai nghè rồi từ hài nghè rước quay trở lại đình. Sau khi rước kiệu từ hai nghè về tới đình thì tổ chức tế lễ với các sản phẩm, lễ vật.
Kết thúc phần lễ sẽ là phần hội với các phần thi gói bánh trưng, bánh dày… và các trò chơi dân gian có sự tham gia đông đảo của người dân.
Hiện vật
Hiện nay đình Phương Độ còn lưu giữ những hiện vật có giá trị cao.
Bên trong thượng cung của đình Phương Độ lưu trữ bức đại tự thờ Dương Tự Minh thời vua Khải Định bằng hình nổi rất lộng lẫy và hai vị thần giúp việc của người có ý nghĩa hình tượng làm nổi bật lên giá trị của ngôi đình.
Ngoài ra, đình Phương Độ còn có bàn hương án cuối thời Lê đầu thời Nguyễn, được trang trí tỉ mỉ với các bộ “tứ linh” chạm nổi, kèm theo những vật phẩm quý giá như sắc phong, bát hương sành cổ, các bộ câu đối và nhiều hiện vật khác, tất cả đều mang giá trị lịch sử và văn hóa đặc biệt.
Xếp hạng
Đình Phương Độ là một trong số ít công trình trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên còn giữ được những giá trị văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc cổ từ thời Lê. Năm 1993 Bộ Văn hóa Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quyết định công nhận đình Phương Độ là Di tích Lịch sử cấp Quốc gia.
Tài liệu tham khảo
- Đỗ Quang Đại, Dương Tự Minh và một số di sản văn hóa liên quan trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Cục si sản văn hoá.
- Nguyễn Công Khôi, Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Phương Độ, xã Xuân Phương, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa, Khóa 9 ( 2018 -2020), trường đại học sư phạm nghệ thuật trung ương.
- Phan Huy Lê – Đại Việt sử ký toàn thư
- Lưu Minh Trị (2004), Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II), Nxb Hà Nội.
- Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Chính Biên – Quyển V.
