Miếu Vũ (Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Miếu Vũ (Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Miếu Vũ thuộc địa phận Làng Cáo xưa, nay thuộc thôn Nhang (còn gọi là khu Nhang) phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Miếu nằm ở phía Tây Bắc, cách trung tâm thành phố khoảng 10km.

Phường Xuân Đỉnh gồm bốn khu: khu Nhang, khu Trung, khu Lộc, khu Đông. Phía Bắc giáp với phường Đông Ngạc, phía Nam giáp phường Xuân Tảo, Cổ Nhuế 1, phía Tây giáp phường Cổ Nhuế 2 và phường Đức Thắng, phía Đông giáp phường Phú Thượng ( quận Tây Hồ).

Miếu Vũ được xây dựng vào thời Lý, thờ vợ chồng thờ Vũ Phục, vợ chồng bán dầu, đã hy sinh tính mạng để chữu bệnh cho vua Lý Nhân Tông.

Lịch sử và nhân vật

Theo sử sách cũ, làng Cáo xưa có tên là Quả Động, thời Hậu Lê gọi là Minh Cảo thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Đời Nguyễn có tên Xuân Tảo. Năm 1956 làng Xuân Tảo và làng Cáo Đỉnh nhập lại thành xã Xuân Đỉnh, thuộc ngoại thành Hà Nội.

Tấm bia ở cổng chùa Minh Phúc (chùa Nứa) khắc năm 1738 đời Lê Ý Tông ghi tên xã là Minh Cảo, thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, sau đổi là Minh Tảo, đến thời Nguyễn đổi là Xuân Tảo. Điều này khẳng định vị trí địa lý làng Cáo xưa đã có từ lâu đời.

Làng Giàn xưa có tên chữ là Cốc Đỉnh, sang Hậu Lê đổi là Khang Cáo, đời Nguyễn đổi là Cáo Đỉnh, tổng Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội. Đầu thế kỷ XX phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông. Thời gian sau, hai xã Cáo Đỉnh (tổng Cổ Nhuế) và Xuân Tảo (tổng Xuân Tảo) hợp thành xã Xuân Đỉnh. Năm 1961, Xuân Đỉnh thuộc huyện Từ Liêm.

Sách Lĩnh nam chích quái có chép: “Chỗ giết hồ tinh hiện nay thành cái đầm lớn, người đời gọi đầm Xác Cáo, bên cạnh cái bến gọi là bến Trâu Đằm. Dân làng lập cái quán thờ thần để trừ yểm tinh nó. ở phía Tây cái đầm có một nơi hoang vu gọi là động cáo, đất ở đây cao, dân làng làm nhà ở được, về sau thành làng gọi là làng Cáo”.

Về lịch sử xây đựng ngôi miếu, căn cứ theo truyền thuyết dân gian đã kể lại, vào cuối đời Lý Nhân Tông có ông Vũ Phục vốn người đất Đống Ba. Ông lấy vợ là người con gái họ Đỗ ở làng Xuân Tảo. Hai vợ chồng lấy việc bán dầu làm nghiệp sống.

Bấy giờ, vua Lý Nhân Tông bị bệnh đau mắt, chữa mãi không khỏi. Nghe thấy chùa trên núi Vân Mộng huyện Kim Bảng có Quy Cốc tiên sinh tinh thông kinh dịch, vua liền đến xem bói. Thầy phán do dòng nước từ phía Tây Bắc chảy xiên vào kinh đô nên khiến vua bị tổn thương. Nếu trấn áp được thì vua sẽ khỏi.

Thiên Phù và Tô Lịch là hai dòng sông hợp lưu phạm vào góc thành Thăng Long. Vua nhiều lần dùng kế lấp sông, nhưng cứ lấp thì bị nước phá. Vua sai người lập đàn tế thần, mong được giúp đỡ. Quả nhiên, đêm đó thần hiện lên, phán rằng nếu sớm hôm sau, gặp ai là người đầu tiên có mặt ở khúc sông này, làm theo yêu cầu của người ta rồi đẩy họ xuống sông, phong cho họ làm thần.  Khi đó, sông sẽ được lấp.

Sớm hôm sau, lính canh thấy có vợ chồng ông bà Vũ Phục đi bán dầu ngang qua. Sứ giả liền kể lại câu chuyện gặp thần rồi hỏi ông bà thích ăn gì. Ông bà bảo thích ăn xôi dẻo, bò béo, gà mái ghẹ. Lính canh cho nấu những món đó đãi ông bà. Ăn xong, ông bà ngửa mặt lên trời mà khấn rằng: “Vợ chồng tôi quyên thân vì đất nước mà lấy cái chết giúp vua. Trời có biết thì xin chứng giám”. Sau khi ông bà qua đời, dân làng đã lập miếu thờ ông và vợ để tưởng nhớ công lao của họ.

Tuy nhiên, một số sử sách lại ghi chép rằng, vua Lý đã ra lệnh ném ông bà xuống sông Tô Lịch (vị trí Chợ Bưởi ngày nay) để chữu khỏi bệnh đau mắt của mình. Sau khi họ qua đời, người dân làng Cáo đã lập đền thờ và gọi khu vực này là xóm Dầu, thay vì việc ông bà đã tự nguyên hy sinh để cứu Vua.

Dẫu chưa có tư liệu nào viết lại chính xác huyền thoại này, nhưng nó vẫn được lưu truyền qua các thế hệ, trở thành một phần quan trọng trong văn hóa và tín ngưỡng của người dân địa phương.

Vợ chồng thần Vũ Phục

Vợ chồng thần Vũ Phục, gọi là ông Dầu bà Dầu, Ông quê ở kẻ Đống Ba, làm nghề bán dầu, lấy bà là người làng Xuân Tảo. Hai vợ chồng thường quẩy dầu từ đây vào kinh thành bán.

Mặc dù rất ít tư liệu ghi chép lại nguồn gốc của hai vợ chồng Vũ Phục, nhưung trong tâm thức dân gian, họ được cho là người có công giúp vua khỏi bệnh. Theo câu chuyện, vua Lý Nhân Tông mắc bệnh đau mắt nặng, và trong lúc tuyệt vọng, ông đã nhận được lời chỉ dẫn từ một giấc mộng, khuyên ông phải tìm đến hai vợ chồng này.

Hai vợ chồng, theo lời thần mộng, đã nhảy xuống sông để hiến linh hồn, giúp vua khỏi bệnh. Sau khi họ qua đời, dân làng đã lập miếu thờ họ để tưởng nhớ công lao và sự hy sinh của họ, và miếu Vũ Phục ra đời từ đó.

Kiến trúc cảnh quan

Miếu Vũ được xây trên khu đất cao ở giữa khu vực dân làng sinh sống, quy mô cảnh quan rộng và đẹp, ngoài cùng là ao vuông, miếu quay hướng Nam, được xây kiểu chữ “Đinh”. Căn cứ theo khối kiến trúc và bộ sưu tập di vật còn lưu lại trong di tích như các bức chạm trang trí trên kiến trúc, kiệu rước, ngai thờ, có thể đoán niên đại xây dựng ngôi miếu khoảng thời Lê và được tu sửa nhiều lần vào thời Nguyễn.

Các hạng mục kiến trúc của miếu hiện nay gồm: Cổng, Miếu chính.

Cổng

Cổng Miếu Vũ được xây theo kiểu cổng Tam Quan, một dạng kiến trúc đặc trưng với kết cấu gồm ba gian cửa ra vào, trong đó lối đi chính ở giữa rộng nhất, còn hai lối phụ nhỏ hơn ở hai bên.

Lối đi chính giữa được tạo bở hai cột trụ cổng hình trụ đứng, có chiều cao khoảng hơn 3m. Cột trụ có chân đế kiểu thắt cổ bồng, phía trên dạng lồng đèn, thân cột khắc chữ Hán chạy dọc thân cột, trên đỉnh gắn bốn chim phượng chúc đầu xuống theo kiểu trái giành. Cửa ra vào chính này để thoáng không có mái che .

Hai cửa phụ ở hai bên được xây thấp hơn, nối liền với các cột trụ tạo thành cổng. Mỗi cửa phụ có cấu trúc hai tầng tám mái, với cấu trúc mái vòm uốn cong. Mái cổng được lợp ngói giả xi măng, đầu đao uốn cong hình rồng.

Miếu chính

Miếu Vũ là một dãy nhà 5 gian, hai mái chồng diêm, được xây dựng trên nền cao hơn mặt sân khoảng 80cm, với bậc tam cấp làm từ những phiến đá xanh.

Bố cục kiến trúc của miếu theo kiểu nhà 4 mái, trong đó hai mái chính chạy dài theo nếp nhà, còn hai mái phụ che ở phía trước và phía sau. Nền miếu được lát gạch vuông, có 8 hàng cột nâng đỡ mái, trong đó một số cột gỗ đã được thay thế bằng cột gạch.

Bên trong miếu, không gian được chia thành 5 gian chạy dọc. Phía Hậu Cung có 3 gian, là nơi thờ hai vợ chồng thần Vũ Phục. Kiến trúc miếu được trang trí công phu, đặc biệt là các vì cốn và các bức cốn mê với những đề tài như: Ngũ linh quần hội, long, ly, quy, phượng, trúc lão hóa rồng. Đặc biệt, bốn đầu dư gian giữa được chạm khắc hình rồng tinh xảo, với các nét chạm tỉ mỉ mang đậm phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX.

Mái miếu lợp ngói mũi hài. Trên nóc mái, ở giữa, có một bức bình phong dạng cuốn thư trang trí hổ phù, và các bờ dải được đắp hình con kìm.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội Miếu Vũ được tổ chức vào ngày 10 tháng 2 âm lịch hàng năm, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và nhiều khách thập phương về tham dự.

Khi lễ hội sắp đến gần, người dân trong làng tấp lập chuẩn bị mọi thứ, từ gạo để làm hàng trăm chiếc bánh dày, mật giọt, đậu xanh, bò, gà mái ghẹ… Hàng ngày, 32 nam thanh niên và 32 nữ thanh niên tham gia kiệu ra sân miếu để tập luyện. Các đội nhạc bát âm, múa bang, kênh rước kiệu, rước cờ, ngựa, bát bửu, lộ bộ… đều được chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng cho ngày chính hội.

Đến ngày 6 tháng 2 làm lễ yết cáo, khai quang, lựa chọn hai vị có học vị cao nhất làng đến Văn chỉ mở hòm sắc chép văn tế thành hoàng.

Đến ngày chính hội, Từ 8 giờ sáng trước cửa miếu tổ chức cúng, đọc văn tế, các khu và dân làng kết chạ đội mâm lễ vào miếu. Từ 10 giờ trở đi đoàn rước hùng vĩ với cờ thần, chấp kích, tàn, tán, lọng, đội múa bồng, múa sênh tiễn… nhộn nhịp tiến về đình. Cỗ lễ là lồng oản, lồng chè kho phải đưa lên bàn vuông có bốn người khiêng, bốn người phụ.

Hội Miếu Vũ có nét đặc sắc là chuẩn bị hai trăm bánh dày làm bằng nếp cái hoa vàng. Bánh to bằng chiếc lồng bàn.

Ngày 11 tháng 2, dân làng tổ chức nhiều trò chơi dân gian như: Thả chim bồ câu, múa bồng, múa sinh tiền, trồng cây đu, đi cầu noi, thi thả diều, cờ người, hát ca trù, tuồng cổ, chè, đặc biệt có trò hề gậy đập niêu rất thú vị.

Người dân trong vùng vẫn lưu truyền câu ca dao để tưởng nhớ về ngày lễ hội làng Cáo:

“Dù ai đi đâu, về đâu,
Tháng hai, hội Cáo rủ nhau mà về.”

Xếp hạng

Miếu Vũ đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000.

Tài liệu tham khảo

  1. Văn Quảng (2010), Đình đền miếu phủ Hà Nội và nghi lễ thờ cúng, Nxb Lao Động.
  2. Đỗ Thỉnh (2000), Địa chí vùng ven Thăng Long, Nxb Văn hoá Thông tin.
  3. Văn Quảng (2009), Văn hoá tâm linh Thăng Long Hà Nội, Nxb Lao Động.
  4. Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội (2001).
  5. Trương Hùng Minh, Quản lý di tích lịch sử văn hóa đình Giàn, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, luận văn thạc sĩ quản lý văn hoá khóa 3 (2015 – 2017), trường đại học sư phạm nghệ thuật trung ương
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)