Tên gọi và vị trí địa lý
Đền thờ Lý Thường Kiệt nằm trên núi Ngưỡng Sơn, thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, trước đây là xã Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
Đền thờ tưởng niệm vị tướng lừng danh Lý Thường Kiệt, là một nhân vật lịch sử kiệt xuất của dân tộc Việt Nam hồi thế kỉ XI, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược Đại Việt. Đây là một trong những di tích lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật gỗ hiếm hoi còn bảo tồn nguyên vẹn giá trị gốc.
Lịch sử và nhân vật
Theo tương truyền, xưa kia ngôi đền nơi đây chỉ là một miếu thờ nhỏ được dựng lên để thờ, tưởng nhớ công lao mà Thái úy Lý Thường Kiệt làm cho nhân dân xứ Thanh.
Tấm bia đá ở đền Lý Thường Kiệt hiện đang được lưu giữ, do học giả Nhữ Bá Sỹ người xã Hoằng Cát, Hoằng Hóa soạn vào năm Tự Đức thứ 13 (năm 1861) thì người ta gọi là miếu Ngưỡng Sơn – nơi thờ Lý Thái úy ở xã Ngọ Xá, tổng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, phủ Quảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, do ba làng Bùi, Đồ, Yên Phú phụng thờ.
Từ thời Lê và Nguyễn vùng núi Ngưỡng Sơn thuộc huyện Vĩnh Lộc. Từ năm 1939 thì vùng đất này mới thuộc về huyện Hà Trung, cũng kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng đất này được đổi tên là xã Hà Ngọc như hiện nay.
Trải qua thời gian, ngôi đền bị xuống cấp, năm 2016, ngôi đền được tu bổ, chắp vá lại những khu vực bị hỏng, còn lại cho đến ngày nay, ngôi đền vẫn giữ được nguyên bản kiến trúc từ khi được xây dựng.
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn, sinh năm Kỷ Mùi (1019), tức năm Thuận Thiên thứ 10, đời vua Lý Thái Tổ. Ông sinh ra ở phường Thái Hòa, thành Thăng Long (nay là Phúc Xá, Hà Nội). Ông là con của Sùng Tiết tướng quân Ngô An Ngữ và bà Hàn Diệu Chi, cha ông là tướng của Khai Quốc Vương Lý Long Bồ, con trai thứ hai của Lý Thái Tổ, và cũng là con thứ của Ngô Xương Xí, một sứ quân ở Bình Kiều, Thanh Hóa.
Lý Thường Kiệt làm quan dưới ba triều vua Lý: Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông và Lý Thánh Tông. Cuộc chiến “Tống, bình Chiêm” là hai chiến công lớn của Lý Thường Kiệt. Ông đã chỉ huy quân đội Đại Việt đánh bại quân Tống trong cuộc kháng chiến (1075-1077) và dẹp loạn vương quốc Chiêm Thành vào năm 1069, bảo vệ lãnh thổ và ổn định biên giới. Những chiến thắng này khẳng định tài năng quân sự của ông.
Đặc biệt, Khi Lý Thường Kiệt trấn nhậm quận Cửu Chân, Ái Châu (Thanh Hoá) trong 19 năm (từ 1082-1101) đã cho xây dựng chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn thuộc thôn Đê, xã Ngọ Xá, nay là xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Vào tháng 6 năm Ất Dậu (1105), Lý Thường Kiệt qua đời, hưởng thọ 86 tuổi. Sau khi ông qua đời, nhân dân đã lập đền thờ ông gần chùa Linh Xứng và tháp Báo Ân để tưởng nhớ công lao của ông.
Kiến trúc cảnh quan
Đền thờ Lý Thường Kiệt tọa lạc trên sườn núi Ngưỡng Sơn, với khuôn viên rộng lớn, xung quanh là cây cối xanh mát. Nằm cách đền vài trăm mét là chùa Linh Xứng, cả đền và chùa cùng quay mặt hướng ra sông Lèn, một nhánh của sông Mã, tạo nên một quần thể đền – chùa linh thiêng, là trung tâm tín ngưỡng của nhân dân trong vùng.
Cổng đền với kết cấu Tam Quan, gồm ba cửa ra vào, cửa chính giữa uốn mái vòm cung, gồm hai tầng mái, phía trên đắp ba chữ “Lý Đại Vương”. Hai cổng phụ hai bên có kích thước nhỏ và thấp, bên cạnh là những cây đại cổ thụ có từ lâu đời.
Qua Tam Quan là khoảng sân trước đền, tại khoảng sân này được đặt một tâ,s bia đá, cạnh gốc cây cổ thụ. Đền nằm trên thế đất cao hơn mặt sân gồm năm bậc thang lên xuống, hai bên đầu hồi được nối liền với hai trụ biểu dạng lồng đèn, ở giữa trước gian giữa có đặt một lư hương và hai cây đèn đá.
Đền có kiến trúc hình chữ Đinh ( 丁 ), gồm Tiền Đường và Hậu Cung, Tiền Đường là công trình được trùng tu vào năm 1815, gồm năm gian hai chái, với kết cấu 12 cột cái và 12 cột quân bằng gỗ lim. Các cột có đường kính 40cm và 30cm, được đỡ bằng các chân tảng đá. Nhà tiền đường có kết cấu vì kèo theo kiểu giá chiêng, chồng rường, kẻ bảy, đặc biệt, các cột kèo và các vì được chạm khắc tinh xảo, thể hiện các họa tiết hoa văn về linh vật và cây cỏ thiên nhiên. Ở gian chính giữa đền thờ Lý Thường Kiệt có bức đại tự cổ khắc chữ “Ngưỡng Sơn Từ” (tức là đền Ngưỡng Sơn). Gian giữa là nơi đặt ban thờ bằng gỗ với lối trang trí cửa võng chạm kênh bong, sơn thếp vàng, hai bên cột gian được treo câu đối, phía trên treo bức hoành phi khắc chữ Hán.
Gian Hậu Cung phía sau là nơi đặt ngai và bài vị thờ Lý Thường Kiệt, được tu sửa lại vào năm 1976.
Sự Kiện và lễ hội
Hàng năm, tại ngôi đền cổ thờ Thái úy Lý Thường Kiệt tổ chức 2 ngày lễ lớn là ngày giỗ của ông (21/6 Âm lịch) và ngày lễ Khai ấn đầu năm vào ngày 25 tháng Giêng Âm lịch.
Ngoài ra, đền còn tổ chức lễ hội Hàn Sơn, diễn ra từ cuối tháng 5 Âm lịch tới hết tháng 6. Cứ tới ngày lễ hội, ngôi đền trở nên tấp lập, Với sự góp mặt của đông đảo nhân nhân, lãnh đạo địa phương và du khách thập phương về tham dự. với ý nghĩa to lớn, cầu mong một năm mới quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, trăm họ an khang thịnh vượng…
Hàng năm, tại đền thờ Thái úy Lý Thường Kiệt tổ chức hai ngày lễ lớn: ngày giỗ của ông (21/6 Âm lịch) và lễ Khai ấn đầu năm vào ngày 25 tháng Giêng Âm lịch. Ngoài ra, đền còn tổ chức lễ hội Hàn Sơn, diễn ra từ cuối tháng 5 đến hết tháng 6 Âm lịch. Cứ đến ngày lễ hội, ngôi đền trở nên tấp nập với sự tham gia của đông đảo nhân dân, lãnh đạo địa phương và du khách thập phương. Lễ hội mang ý nghĩa to lớn, cầu mong một năm mới quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, trăm họ an khang thịnh vượng.
Hiện vật
Hiện nay, ngôi Đền vẫn còn giữ được nhiều đồ thờ cổ và quý hiếm, ngoài tấm bia “Ngưỡng Sơn miếu” thì ở đây còn có ba bia đá khác ghi chép việc công đức trùng tu đền.
Xếp hạng
Ngày 15/12/2004, di tích đền thờ Lý thường Kiệt, xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa được xếp hạng di tích quốc gia.
Tham khảo
- Di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá, Nxb Thanh Hoá (2019)
- Lưu Minh Trị (2004), Di thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam, tâp II, Nxb Hà Nội.
- Nguyễn Vinh Phúc (2009), Nguyễn Duy Hinh, Các Thành Hoàng và tín ngưỡng Thăng Long, Nxb Lao Động.
