Những năm 2000, khách hành hương đi về chùa Ráng, Phú Xuyên – Hà Nội, lễ Phật lễ Tổ, vãng cảnh tham bái, đỉnh lễ, tham vấn Đức Đệ tam Pháp chủ Thích Phổ Tuệ thấy rằng, so với các ngôi chùa khác, chùa Ráng có sự khác lạ, dường như có tính vượt trội của sự thanh tịnh, đơn giản, mộc mạc…
Trong chuỗi ấn tượng về chùa Ráng, có nhiều vật dụng, cây cối, dáng vẻ được lưu giữ sâu sắc nơi tâm trí nhiều người. Trong đó có hai sự vật cứ lấp lánh mãi, chiếc cối đá được làm bậc bộ hành lên xuống giữa nhà Tổ với khu bếp, cùng với hai chiếc cầu ao nhỏ, xinh và chênh vênh, gác hờ trên ao sen ở trước tòa tiền tế, tháp Phật chùa Ráng.
Trên lối ngách từ bếp lên nhà Tổ có chiếc cối đá lớn bị vỡ đôi, được buộc lại bằng sợi lạt và dây thừng cũ, dùng làm bậc cầu thang từ bếp lên hiên nhà Tổ, cao chừng non một mét. Không biết do lỡ dở bỏ đó hay chủ ý đặt đó để đi lại cho dễ dàng, mà lại không xây bậc tam cấp. Đặt vào đó là một chiếc cối đá vỡ đôi, được Tổ Ráng, lúc bấy giờ đã trên dưới 90 tuổi, buộc lại sơ sài để sử dụng.
Chiếc cối đá đại chỉ buộc bằng một sợi lạt tre, cuốn dây thừng trông rất chông chênh, rất khó khăn, nguy hiểm cho người đi lại. Ban đầu nhiều người đi qua đi lại chỗ đó thấy chông chênh, có người suýt ngã, có người đã ngã, may chống được tay. Vậy nhưng Cụ sư già hơn 90 tuổi vẫn thong dong, chân xỏ đôi guốc gộc tre, đẽo sơ sài, đi lại hàng ngày, hàng đêm như không bận tâm.

Tháp cửu phẩm liên hoa chùa Ráng
Trong những dịp nhà chùa có lễ, có cỗ bàn, người đi lại qua bậc thềm cối đá càng đông. Cỗ bàn thời đó rất đơn giản, chỉ vài bát, đĩa thức ăn rau dưa, chao đậu; bày mấy mâm cơm chay là những chiếc mâm nhôm to nhỏ khác nhau để trên giá cỗ dưới khu bếp. Những người chấp tác bê các mâm cỗ đó lên nhà Tổ, nhà khách, đi qua bậc thềm cối đá chông chênh…
Khi đó, có nhiều người nảy ý định cúng dàng tịnh tài để mua gạch, cát, xi măng, xây bậc tam cấp từ lối đi chỗ nhà bếp lên trên nhà Tổ cho an toàn tiện nghi. Nhưng những người có sáng kiến đó đều len lén nhìn vào cỗ cối đá, nhìn vào Đức Pháp chủ, nhìn vào cảnh vật xung quanh mà có điều gì đó rờn rợn, e ngại.
Chúng ta từng được nghe ở đâu đó về thiền hành, về sự thong dong, vững chãi, thảnh thơi dạo bước trên những con đường uốn lượn đẹp đẽ, có khi là trong những khu vườn, trong những cánh rừng râm mát hay những con đường trên những cánh đồng đầy hoa cỏ…
Đối với Hòa thượng Pháp chủ, đương thời Ngài mới buông tay cày, tay cuốc, thôi làm những công việc đồng áng, thổ mộc nặng nề được vài năm, khi tuổi đã ngoại 80, cho nên việc đi lại ngày đêm trên lối đi có cỗ cối đá chông chênh, khập khễnh giữa nhà Tổ và nhà bếp của Chùa Ráng vẫn nên hiểu theo một nghĩa sâu xa nào đó, thật hiếm gặp.
Sự hiện hữu nhiều năm của cỗ cối đá làm bậc thềm đi từ thềm hè nhà Tổ xuống sân nhà bếp vẫn luôn gợi cho người ta một cảm giác về một cái gì đó bất ổn, không bền, một cái gì đó nguy hiểm, chênh vênh, trôi nổi vô tình. Đối với Đức Đệ tam Pháp chủ, dường như đó lại là một câu hỏi thầm, một câu đố, một câu đoán, một “công án” để cho ai đó lanh lợi suy ngẫm, tư duy, trên những lối nghĩ thiền môn.
Thấy Đức Pháp chủ y áo lượt bượt, đi đôi guốc tre, guốc mộc đẽo sơ sài, lọc cọc mà có thể an lạc tự tại bước trên chiếc cối đá vỡ, buộc lạt chông chênh đó, người ta lại cảm nhận được sự vững chãi, thảnh thơi, thong dong của một bậc Thiền sư không cũ, không mới.
Có lần, vào ngày giỗ Ngài Nguyên Uẩn – Cố Đệ nhất Tổ chùa Ráng (13 tháng 11 âm lịch), đã có vị thanh niên Phật tử, sau khi đã xếp xong cỗ trên nhà Tổ, đi xuống khu bếp, bước qua chỗ đặt cối đá, thất niệm đã có một cú ngã mạnh, bất tỉnh nhân sự, may qua khỏi, rồi như thường…
Về sau trường Hạ được mở lại tại chùa Ráng (2006), chư Tăng và Hòa thượng Đường chủ đã thay cối đá vỡ đó bằng bậc tam cấp vững vàng, nhẹ nhàng, đẹp đẽ hơn.
Những người được chứng kiến thời tồn tại của cối đá vỡ làm bậc thềm nhà Tổ xuống bếp của chùa Ráng lại thấy trống vắng, thiếu vắng, xa vắng sự sâu thẳm của cảnh vật, cảnh thiền. Nay ngẫm về cái cối đá ngày xưa đó lại man mác nhớ Đức Đệ tam Pháp chủ lúc bấy giờ, Ngài đã ở độ tuổi gần 90 tuổi.
Lại nữa, thưở đó, Ngài xây phía trước nhà tiền tế của chùa Ráng một tòa tháp chín tầng, tòa cửu phẩm liên hoa tháp. Đến giờ công trình vẫn lung linh tố hảo, thi gan cùng tuế nguyệt. Việc xây dựng tòa tháp này là một kỳ công, xin nói đến trong một dịp khác…
Trước tòa tháp có một lối sân, đôi bên có hai vạt ao nhỏ. Ao bên phải trồng sen. Trên ao có một cây cầu tre lắt lẽo, chênh vênh, mong manh… Ao bên trái không trồng sen, để tích nước, thoáng đãng hơn. Trên đó cũng có một cây cầu tre nhỏ mỏng manh vươn xoãi trên mặt ao… đôi khi nhà chùa phải lấy nước ao để sử dụng, nhất là vào mùa đông tháng giá, khan nước. Nước được bơm vào những chiếc thuyền sắt nhỏ, gạt lọc bớt rong bèo, để lắng, dùng rửa rau, rửa bát…
Tới nay, khuôn viên nhà chùa đã mở rộng thêm nhiều, ra tứ phía. Phía trước xa của nhà tiền tế cũng có làm hai hồ nước nhỏ, không còn hai vạt ao xưa nữa. “Bãi bể nương dâu”, cảm khái khôn cùng…
Đương thời, khi Đức Pháp chủ đã ở tuổi 90, sức khỏe rất dẻo dai, hiếm có. Hàng ngày Ngài vẫn men trên những cây cầu tre đó để kín nước tưới rau, đậu trong vườn. Khi lấy nước bằng đôi thùng cao su, Cụ thường đi một đôi guốc cộc kệch, chông chênh, trên cầu tre đó. Người ngoài nhìn vào thấy rất nguy hiểm, mà sao Ngài vẫn an toàn, an lạc, tự tại.
Sự hiện hữu của cái cối đá vỡ làm bậc thềm từ nhà Tổ trên lối xuống nhà bếp và những cái cầu tre lắt lẻo, trên các vạt ao trước cửa chùa Ráng, gợi nên ảnh tưởng, hoài niệm về cuộc đời cần lao, vất vả mà an nhiên, tự tại, thong dong của đức Đệ tam Pháp chủ đương thời.
Cảnh xưa ấy, người xa xưa ấy cũng gợi lên, tạo cảm nhận thấp thoáng, mơ màng về câu chuyện tu thiền, hành thiền, chứng thiền, vững tâm, đầy trách nhiệm với đời, với Đạo, với cảnh vật của Đức Đệ tam Pháp chủ Thích thượng Phổ hạ Tuệ xưa và nay./.