Tên gọi và vị trí địa lý
Miếu Tiên Công, còn được gọi là Đền Thập Cửu Tiên Công, nằm tại xã Cẩm La, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Di tích này tọa lạc gần trụ sở Ủy ban Nhân dân xã Cẩm La, huyện Yên Hưng, nay thuộc phường Phong Cốc, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Miếu được xây dựng để thờ phụng 17 vị Tiên Công – những người có công lớn trong việc đắp đê lấn biển, khai hoang lập ấp nên vùng đảo Hà Nam.
Lịch sử và nhân vật
Miếu Tiên Công được xây dựng từ rất lâu đời, hiện chưa rõ chính xác thời điểm xây dựng, chỉ biết rằng, đến năm Gia Long thứ 3 (1804) thì được trùng tu, xây dựng lại, và qua các thời kỳ tiếp theo tiếp tục được sửa chữa, tôn tạo nhiều lần. Miếu là nơi thờ phụng 19 vị Tiên Công – những người đầu tiên có công quai đê lấn biển, , tạo dựng nên đảo Hà Nam trù phú với hệ thống làng xóm phát triển, hình thành nên 7 xã như ngày nay.
Theo sử tích, xưa kia đảo Hà Nam chỉ là một vùng bãi bồi ngập nước nằm ở cửa sông Bạch Đằng, các vạn chài đến các bãi bồi phơi lưới, đánh cá. Năm niên hiệu Thiệu Bình (1434), khi vua Lê Thái Tông đăng quang, trong công cuộc mở mang đất nước, 19 chàng trai quê ở phường Kim Hoa, phủ Hoài Đức, thành Thăng Long – trong đó có bốn người là Quốc tử giám sinh và ba người là hiệu sinh – đã rủ nhau xuôi về phương Nam khai phá vùng đất mới. Họ cùng với cư dân vạn chài bản địa đã dựa vào các doi đất cao trên bãi bồi, tiến hành quai đê lấn biển, lập nên phường Bông Lưu – tiền thân của xã Phong Lưu sau này, bao gồm Cẩm La và Yên Đông, Phong Cốc. Một thời gian sau, có thêm 2 gia đình khác quê huyện Trà Lý (Hà Nam Ninh) cũng tim đến lập nên xứ Bản Động sau đổi thành Trung Bản và sáp nhập vào xã Phong Lưu thành 4 thôn: Phong Cốc, Cẩm La, Yên Đông, Trung Bản. Hiện nay miếu chỉ thờ 17 vị, còn 2 vị được nhân dân đưa về thờ ở Miếu của thôn Trung Bản.
Vào năm 1994, ngôi miếu đã được trùng tu, tôn tạo lại kiến trúc cho đến hiện nay.
Kiến trúc cảnh quan
Xưa kia, Miếu Tiên Công chỉ là một công trình đơn sơ, được dựng lên bằng tranh tre, Đến thời vua Gia Long, ngôi miếu mới được xây dựng lại bằng vật liệu kiên cố như gạch, ngói. Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đến nay Miếu Tiên Công đã trở thành một công trình khang trang, rộng lớn, tọa lạc trên khoảng đất thoáng đãng, bao quanh là khu dân cư, phía trước miếu là một hồ nước lớn.
Cổng miếu được thiết kế theo kiểu nghi môn truyền thống, gồm bốn cột trụ biểu hình lồng đèn. Hai cột trụ chính ở giữa cao hơn 2 mét, hai trụ phụ hai bên có chiều cao thấp hơn. Cổng có kiểu dáng đơn giản, không trang trí hoa văn hay chữ Hán, các mặt trụ được để trơn và sơn vàng.
Bước qua cổng là khoảng sân rộng lát gạch đỏ, kéo dài vào sâu bên trong dẫn đến khu thờ chính. Chính điện được xây dựng theo kiểu kiến trúc chữ “nhị” (二) gồm hai phần: Tiền Đường và Hậu Cung, kết cấu mái theo kiểu chồng rường giá chiêng đặc trưng của kiến trúc truyền thống Bắc Bộ.
Tiền Đường gồm ba gian, hai chái, ba gian giữa có hệ thống cửa thượng song hạ bản, hai gian đầu hồi được xây tường kín, giữa có cửa hình chữ “Thọ”. Bên trong Tiền Đường, nổi bật là hệ thống cửa võng được chạm lộng, kênh bong tinh xảo, cùng hệ thống hoành phi, câu đối sơn son thếp vàng tạo nên không gian thờ cúng trang nghiêm. Ngoài ra còn miếu còn có các bộ bát bửu, lọng vải, chim hạc – những vật phẩm thờ cúng truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân gian.
Đặc biệt, tại gian giữa Tiền Đường có treo bức đại tự bằng chữ Hán – đây chính là sắc phong của vua Tự Đức ban tặng với nội dung “Phong Lưu nghĩa dân”. Ngoài ra, còn có sắc phong của vua Khải Định (năm thứ 9), sắc phong 17 vị Tiên Công là “Dực bảo Trung hưng chi thần” – tôn vinh các vị như những bậc thần linh phù trợ quốc gia.
Trong Miếu có đôi câu đối ca ngợi các vị Tiên Công:
Thiên cổ khai canh công vĩnh tại
Ức niên phụng trị phúc du đồng
Dịch nghĩa:
Muôn thuở khai canh công còn mãi
Ngàn năm thờ phụng phúc vô cùng
Phía sau là ba gian Hậu Cung, nơi đặt các khám thờ để thờ các vị Tiên Công. Mái miếu được lợp bằng ngói mũi hài, góc mái trang trí hình con kìm.
Di vật
Hiện nay miếu Tiên Công còn lưu giữ được một số hiện vật có giá trị về nghệ thuật điêu khắc gỗ như: Ngoài các bức chạm truyền thống được thể hiện ở các vì kèo, đầu bẩy, đầu dư, con rường… các đồ thờ tự ở đây đều thể hiện được sự điêu luyện của nghề mộc mỹ nghệ của nhân dân địa phương. Các khán thờ, sắc phong, hương án, bát bửu đều được sơn son thếp vàng. Những đường nét chạm trổ trên các hiện vật thờ tự, từ bài vị cho đến các khám thờ, các bức cửa võng, đại tự, câu đối, đều mang đậm nét riêng biệt của bản sắc văn hoá dân tộc với nhiều đề tài phong phú, đa dạng như tứ linh, hổ phù, rồng chầu, hoa lá cách điệu, mây mác, cá chép hoá rồng…
Lễ hội
Lễ hội Tiên Công được tổ chức hằng năm vào ngày mồng 7 tháng Giêng Âm lịch tại đảo Hà Nam, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Đây là dịp quan trọng để con cháu trong vùng cùng nhau tưởng nhớ, tri ân công đức của các vị Tiên Công – những bậc tiền nhân có công đầu trong việc quai đê, lấn biển, khai khẩn đất hoang và lập nên làng mạc trù phú ngày nay.
Tín ngưỡng thờ cúng Tiên Công là nét văn hóa đặc sắc được hình thành từ đầu thế kỷ XV, bắt nguồn từ hành trình khai hoang lập địa của 19 vị Tiên Công đến từ vùng châu thổ sông Hồng. Dù tín ngưỡng thờ tiền hiền hiện diện ở nhiều vùng trên cả nước, nhưng việc biến tín ngưỡng ấy thành một lễ hội trang trọng, quy mô lớn và mang đậm tính cộng đồng như lễ hội Tiên Công thì hiếm nơi nào làm được như ở đảo Hà Nam.
Một trong những nghi thức độc đáo và đầy ý nghĩa của lễ hội là lễ rước người sống – tức rước các cụ thượng thọ (từ 70 tuổi trở lên) lên miếu Tiên Công. Đây không chỉ là sự bày tỏ lòng thành kính với các bậc cao niên mà còn là niềm vinh dự lớn lao của mỗi gia đình, dòng họ khi có người đạt đến tuổi thượng thọ. Theo quan niệm dân gian, gia tộc nào có cụ cao tuổi là gia tộc sống phúc đức, làm việc thiện, cần cù lao động và con cháu hiếu thuận.
Trong lễ rước, con cháu đội các mâm lễ vật đi trước, gồm trầu cau, rượu, xôi, gà, hoặc thủ lợn. Đặc biệt, mâm hương án có hình long mã kết Công, biểu tượng cho sự trường thọ và phúc lộc. Bốn cụ thượng thọ khỏe mạnh, gia đình hòa thuận, con cháu chăm ngoan sẽ được chọn làm đại diện để thực hiện nghi lễ động thổ bằng hoa quả, tượng trưng cho sự tiếp nối của các giá trị truyền thống. Những cụ già yếu sẽ được con cháu khiêng bằng võng, che lọng chu đáo, tạo nên một đám rước đậm đà bản sắc gia tộc.
Không chỉ là một lễ hội tâm linh, lễ hội Tiên Công còn mang giá trị giáo dục sâu sắc, là dịp để con cháu, đặc biệt là thế hệ trẻ, hiểu hơn về đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, về truyền thống hiếu nghĩa, tôn kính người già của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh các nghi lễ chính, lễ hội còn có nhiều hoạt động văn hóa dân gian phong phú như: trò chơi bịt mắt chém cá chình, hội thi ông Voi và nuôi ông Voi, múa cây bông (trong lễ hội Trà Cổ), hay tục múa long đao trong lễ hội Quan Lạn – thể hiện sự oai hùng và khéo léo của quân sĩ nhà Trần.
Với giá trị văn hóa đặc biệt, Lễ hội Tiên Công đã được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể cấp Quốc gia vào ngày 8 tháng 5 năm 2017, xứng đáng là một biểu tượng của truyền thống văn hóa và lòng biết ơn sâu sắc của người dân vùng biển Quảng Ninh.
Xếp hạng
Miếu Tiên Công được Nhà nước công nhận Di tích Lịch sử & Văn hóa quốc gia năm 1989.
Tài liệu tham khảo
- Đồng Thị Huệ (2015), Nghiên Cứu Phát Triển Du Lịch Văn Hóa Ở Tỉnh Quảng Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ, Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Nguyễn Thị Phương Thảo, Mối tương quan giữa các lễ hội ven biển Quảng Ninh với các lễ hội vùng Duyên Hải Bắc Bộ, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 3 (48), 2014.
- Cổng thông tin điện tử xã Cẩm La, thị xã Quảng Yên.