Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Kim Âu, có tên chữ là “Am Vàng tự”, là một trong những ngôi chùa cổ kính và linh thiêng tọa lạc tại thôn Kim Âu, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Tên gọi “Kim Âu” gắn liền với chính địa danh nơi ngôi chùa hiện diện, mang theo dấu ấn văn hóa và không gian tâm linh đặc trưng của vùng đất này.
Nằm ở bên phải đình Kim Âu, ngôi chùa là không gian thờ tự, thể hiện sự hòa quyện giữa tín ngưỡng dân gian bản địa với tôn giáo du nhập, phản ánh rõ nét đời sống tâm linh phong phú của cộng đồng cư dân nơi đây.
Lịch sử và nhân vật
Theo tài liệu trong Hồ sơ di tích đình, chùa Kim Âu được khởi dựng từ thời Trần, sau đó trải qua nhiều lần trùng tu dưới các triều đại Hậu Lê và Nguyễn. Tuy nhiên, đáng tiếc là những tư liệu hiện còn lại tại di tích chỉ phản ánh dấu tích lịch sử từ thế kỷ XIX, nên việc xác định niên đại khởi dựng chính xác đến nay vẫn chưa thể thực hiện được.
Kiến trúc cảnh quan
Trải qua bao biến động của lịch sử, chùa Kim Âu đã nhiều lần được trùng tu và phục dựng để giữ gìn dáng vẻ tôn nghiêm. Theo lời kể của các bậc cao niên trong làng, xưa kia, chùa từng có quy mô lớn, bao quanh là tường xây vững chắc, phía ngoài tường là ao hồ. Ngày nay, chùa Kim Âu được xây dựng trên khu đất cao ráo, trong một không gian rộng thoáng, xung quanh là cánh đồng ruộng, với quy mô diện tích lớn, khang trang, các công trình kiến trúc hiện nay gồm Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Tổ, Nhà Khách và một số công trình phụ trợ khác.
Tam Quan
Cổng tam quan của chùa gồm ba lối, lần lượt tượng trưng cho Phật, Pháp và Tăng, trong đó, lối đi giữa là cổng chính, có kích thước lớn hơn hai lối phụ hai bên, hai cửa bên có thiết kế nhỏ hơn, tạo nên sự cân đối cho tổng thể kiến trúc. Điểm đặc biệt của công trình này là kiến trúc sử dụng các mảng kín bằng chất liệu đồng thay vì tường gạch thông thường, tạo nên vẻ độc đáo và sang trọng. Tầng dưới được bao quanh bởi hệ thống cửa võng chạm khắc tinh xảo, còn tầng hai là các bức phù điêu bằng đồng, khắc họa sinh động hình ảnh con người và linh vật trong không gian linh thiêng của Phật giáo.
Nổi bật ở trung tâm là bức phù điêu lớn khắc họa Đức Phật ngồi thiền trên tòa sen, xung quanh là những cảnh giới thiêng liêng và thần linh được thể hiện sống động, tất cả đều sơn thếp vàng, toát lên vẻ trang nghiêm, rực rỡ và huy hoàng. Phần này nhô cao hơn tạo thành tầng ba, tầng cao nhất với hình ảnh lưỡng long chầu nhật trên đỉnh mái, các phần mái Tam Quan lợp ngói đỏ, các đầu đao mái uốn cong hình rồng.
Hai cánh cổng được trang trí bởi hoa văn cổ điển như hoa sen, mây lửa, linh thú, sơn vàng tinh tế, phản ánh sự hòa quyện giữa nghệ thuật truyền thống và kỹ thuật chế tác hiện đại. Từ cổng là dãy tường chạy bao quanh khuôn viên của di tích, tách biệt với không gian bên ngoài.
Lầu chuông, lầu khánh
Bước qua cổng Tam Quan là một khoảng sân rộng, nằm ở hai bên sân, phía trái và phải, là lầu Quan Âm và lầu chuông, đây là hai công trình đối xứng nhau, được xây dựng theo lối kiến trúc Phương Đình truyền thống. Mỗi lầu có mặt bằng hình vuông, gồm hai tầng với tám mái chồng lớp, được nâng đỡ bởi bốn cột gỗ lớn. Mái lợp ngói đỏ, các đầu đao cong vút mềm mại, tạo nên vẻ thanh thoát và trang nghiêm cho toàn bộ không gian.
Lầu Quan Âm được xây dựng làm nơi tôn thờ Bồ Tát Quan Âm, vị Phật tượng trưng cho lòng từ bi và luôn được nhân dân Việt Nam hết mực kính ngưỡng. Đối diện là lầu chuông, bên trong có treo quả đại hồng chung dùng để cử hành nghi lễ.
Tam Bảo
Tòa Tam Bảo được xây dựng theo kiểu kiến trúc hình chữ Đinh (丁), với lối kiến trúc hiện đại. Công trình gồm hai tầng, tầng dưới hồm 3 gian, nổi bật với cửa võng trang trí trước mỗi gian, phía trên mái là hình rồng có kích thước lớn, được sơn thếp vàng. Tầng trên đặc trưng bởi không gian mở, không sử dụng hệ thống cửa, tạo cảm giác thoáng đãng và gần gũi. Phần mái được phân thành ba lớp dưới và hai lớp trên, trong đó tầng trên được thiết kế nhô cao, tạo thêm một lớp mái nổi bật ở phía trên.
Nền chùa lát bằng gạch men vuông, mỗi viên có kích thước 20×20 cm, hệ thống cột gỗ lớn được bố trí hợp lý để nâng đỡ phần mái, kết cấu mái sử dụng bốn bộ vì, hai bộ vì chính theo kiểu “chồng rường giá chiêng” và hai bộ vì hồi làm kiểu “kèo kìm quá giang”. Ở mỗi gian thờ đều được bày trí hương án, hệ thống cửa võng sơn thếp vàng.
Hậu Cung được nối liền với Tiền Đường và chạy dài theo hướng dọc về phía sau, bố cục tượng Phật trong chùa chia thành hai lớp rõ rệt:
Lớp trước là bộ Di Đà Tam Tôn, nổi bật là tượng A Di Đà ngồi thiền định trên tòa sen, mình mặc áo pháp, tay kết ấn thiền, khuôn mặt từ bi, ánh mắt trầm tư, miệng mỉm cười nhẹ. Những quý tướng như tóc xoắn hình ốc, dái tai dài, ngực có chữ “vạn” đều được thể hiện đầy đủ, thể hiện đặc trưng tượng A Di Đà lớn của mỹ thuật Phật giáo.
Lớp sau, trung tâm là tượng Thích Ca sơ sinh trên tòa Cửu Long, mô tả cảnh đản sinh với hình tượng chú bé tay trái chỉ trời và tay phải chỉ đất, hàm chứa thông điệp “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Xung quanh là chín con rồng phun nước, hai bên đặt tượng Quan Âm (trái) và Thế Chí (phải), cùng ban thờ Đức Ông và Đức Thánh Hiền. Sát tường hồi bên phải treo chuông đồng lớn “Am Vàng tự chung”.
Hai bên công trình Tam Bảo là hai dãy Tả Vu và Hữu Vu được bố trí đối xứng, mỗi dãy gồm hai tầng, mang phong cách kiến trúc hiện đại. Các dãy nhà này được thiết kế liên hoàn, có cầu nối liên kết với các hạng mục khác trong khuôn viên chùa, tạo nên sự kết nối hài hòa và thuận tiện trong tổng thể không gian kiến trúc.
Nhà Mẫu
Nhà Mẫu gồm hai gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, khung mái gồm ba bộ vì kiểu “kèo quá giang”. Giữa nhà là bệ thờ Mẫu cao khoảng 1m, tạo không gian trang nghiêm cho tín ngưỡng Tứ Phủ.
Bên cạnh các công trình chính, trong khuôn viên chùa Kim Âu còn có một tháp ba tầng được xây dựng vào năm 1993, dùng làm nơi lưu giữ những pho tượng cổ đã bị hư hại theo thời gian. Xung quanh chân tháp được gắn các tấm bia hậu để ghi nhớ và tri ân công đức của các bậc tiền nhân. Ngoài ra, chùa còn bổ sung thêm một số hạng mục phụ trợ nhằm phục vụ tốt hơn cho sinh hoạt tín ngưỡng và bảo tồn di sản.
Di vật
Trải qua dòng chảy lịch sử với nhiều biến động thăng trầm, di tích chùa Kim Âu từng bị xuống cấp và hư hỏng ở nhiều hạng mục. Tuy vậy, đến nay, chùa vẫn còn lưu giữ được một số di vật quý giá, trở thành nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử ngôi chùa và đời sống vật chất, tinh thần của một làng quê truyền thống.
Trong đó có thể kể đến:
- Tám đạo sắc phong, với đạo sắc sớm nhất mang niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 4 (1844) và muộn nhất là niên hiệu Khải Định năm thứ 9 (1924)
- Một cuốn thần tích, một tấm bia đá “Thạch lập bi ký”
- Một ngai thờ và bài vị chạm thủng hình rồng, phượng, đề chữ Hán “Linh Lang đại vương bảo vị”, thể hiện phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX
- Hệ thống 14 bia đá của chùa, với tấm bia sớm nhất là “Kỵ Điền bi”, có niên hiệu Dương Hòa năm thứ 5 (1639), kích thước 50x35cm. Tấm bia muộn nhất là bia “Hậu Phật bi ký” khắc năm Tự Đức 24 (1872), kích thước 38 x 40 cm.
- Chuông đồng “Am Vàng tự chung”, đúc vào năm Hoàng Triều Tự Đức nhị thập nhất niên tuế thứ kỷ tỵ tam nguyệt cốc nhật, tức niên hiệu Tự Đức 21 (1868), kích thước 105cm x 50cm
Xếp hạng
Với những giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa tiêu biểu, chùa Kim Âu đã được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng là Di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố vào năm 2008.
Đây không chỉ là sự ghi nhận ý nghĩa của di tích trong đời sống cộng đồng, mà còn là cơ sở quan trọng để tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong thời đại số.
Tài liệu tham khảo
- Vũ Thanh Bằng (2022), Thờ Thành Hoàng ở thôn Kim Âu, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội trong bối cảnh đô thị hóa, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 9(225).
- Lê Ngọc Quang (2023), Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm: Lịch sử, thực trạng và những vấn đề đặt ra, Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Di tích lịch sử văn hóa – Cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, Uỷ ban nhân dân huyện Gia Lâm (2010).