Tên gọi và vị trí địa lý
Tọa lạc tại thôn Cao Cương, xã Đông Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, chùa Cảm Ứng Linh Tự (thường gọi là chùa Cao Cương) là một trong những điểm đến tâm linh tiêu biểu ở vùng đất phía Tây Thủ đô. Nơi đây thuộc vùng bán sơn địa Ba Vì – mảnh đất cổ giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và tâm linh.
Chùa cách trung tâm Hà Nội khoảng 60km, thuận tiện di chuyển theo tuyến Quốc lộ 32A. Từ hướng Trung Hà, du khách đi qua thị xã Sơn Tây khoảng 8km sẽ tới địa phận thôn Cao Cương, sau đó rẽ phải vào làng là đến khu di tích.
Không chỉ mang giá trị riêng về mặt kiến trúc và tôn giáo, chùa Cao Cương còn nằm trong vùng có tiềm năng du lịch lớn của huyện Ba Vì, nơi nổi bật với hệ sinh thái tự nhiên đa dạng, khí hậu trong lành và hệ thống di sản văn hóa, tâm linh phong phú.
Hiện nay, chùa Cao Cương thuộc sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là nơi sinh hoạt tín ngưỡng thường xuyên của nhân dân địa phương và Phật tử thập phương.
Lịch sử và nhân vật
Nằm trên địa vực Phong Châu xưa, chùa Cao Cương tọa lạc giữa một vùng đất cổ kính, giàu trầm tích văn hóa và lịch sử. Các cuộc khai quật khảo cổ đã phát hiện tại đây nhiều dấu vết cư trú của người Việt cổ, có niên đại cách nay từ 4000 đến 2000 năm, với các di chỉ tiêu biểu như Gò Hện (xã Vạn Thắng), Mão Sơn (xã Đông Quang), Cổ Đô, Đồng Chỗ… Những phát hiện này cho thấy vùng đất Ba Vì nói chung và thôn Cao Cương nói riêng từng là cái nôi văn hóa lâu đời, gắn với quá trình hình thành làng xã Việt cổ.
Trong tiến trình ấy, cùng với sự định cư ổn định của cộng đồng cư dân và nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, các ngôi chùa thờ Phật đã sớm được dựng nên, trở thành trung tâm tâm linh gắn bó với mọi tầng lớp nhân dân. Trong bối cảnh ấy, chùa Cao Cương được hình thành như một trung tâm sinh hoạt tôn giáo, đáp ứng đời sống tâm linh của cư dân trong vùng.
Tuy chưa xác định được niên đại khởi dựng chính xác, nhưng theo bài ký khắc trên bia đá còn lưu tại chùa cho biết, chùa Cao Cương được xây dựng từ lâu đời, đến năm Mậu Ngọ niên hiệu Hoằng Định (1618), chùa đã được trùng tu phần Thượng Điện và tạc thêm tượng Phật. Sau 8 năm sau vào năm Bính Dần (1626), niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 8, chùa tiếp tục được xây dựng thêm tòa Thiêu Hương và Tiền Đường.
Trước kia, chùa nằm ở khu vực ngoài đê sông Hồng. Tuy nhiên, do tình trạng sạt lở nghiêm trọng vào năm 1938, đe dọa trực tiếp đến toàn bộ kiến trúc, nhân dân làng Cao Cương đã tiến hành di dời chùa vào vị trí hiện nay một khu đất cao ráo, tuy nhiên quy mô đã được thu hẹp lại so với ban đầu.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa nằm trong khu dân cư sinh sống của làng, Hiện nay chùa có một số công trình kiến trúc: Cổng Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Gác Chuông, Vườn Tháp, Nhà khách và nhà bếp của chùa.
Tam Quan
Cổng chùa được thiết kế theo kiểu Tam Quan truyền thống với ba gian, làm hoàn toàn bằng gỗ, nổi bật với kiến trúc mái chồng diêm hai tầng mang đậm dấu ấn kiến trúc Phật giáo cổ truyền. Mái lợp ngói mũi hài, đáng chú ý, phần đầu đao không uốn cong vút lên như thường thấy ở các di tích khác, mà thay vào đó là hệ mái xuôi đơn giản, chạy thẳng dọc xuống tạo nên vẻ chắc khỏe.
Kết cấu vì kèo, rường, cột đều sử dụng gỗ lớn, được chạm khắc tinh xảo, thể hiện kỹ thuật mộc truyền thống điêu luyện. Các con chồng (dầm ngang đỡ mái) được tạo tác công phu, trang trí hoa văn cổ điển, tạo nên vẻ trang nghiêm cho tổng thể kiến trúc. Hệ thống cột trụ vững chãi là điểm tựa cho toàn bộ phần mái, mang lại cảm giác cân đối, hài hòa.
Thân cổng tương đối mảnh, nhưng phần mái phía trên lại được đua rộng ra cả phía trước và sau, tạo khối kiến trúc ở phía trên mái cổng. Cánh cổng chính được làm bằng gỗ kiểu “thượng song hạ bản”. Toàn bộ cổng sử dụng màu gỗ nâu sẫm phối hợp với mái ngói đỏ, tạo nên vẻ đẹp cổ kính, tĩnh lặng, rất đặc trưng cho không gian Phật giáo vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Trên bờ nóc mái, gắn hình con kìm bằng gỗ một chi tiết trang trí đặc trưng. Cổng nối liền với hệ tường bao xây bằng gạch vữa truyền thống, kết hợp các ô cửa gió vuông chạm hoa văn, tạo điểm nhấn nhẹ nhàng và phân tách rõ ràng giữa không gian bên trong chốn thiền môn với thế giới bên ngoài.
Ngoài Tam Quan, chùa còn có một cổng phụ nhỏ, là lối đi phụ khác.
Tam Bảo
Bước qua cổng Tam Quan là khoảng sân chầu rộng lát gạch đỏ, đóng vai trò quan trọng trong các dịp lễ hội, chiêm bái và sinh hoạt cộng đồng của nhân dân địa phương.
Tam Bảo được xây dựng trên nền đất cao, kết cấu theo kiểu mặt bằng chữ Đinh (丁) lối kiến trúc phổ biến trong chùa chiền truyền thống Việt Nam, gồm hai phần chính là Tiền Đường và Hậu Cung. Nền chùa được nâng cao bằng bậc tam cấp, lát gạch đá vuông vức, góp phần tôn thêm vẻ trang nghiêm của toàn bộ kiến trúc. Phía trước hai bên đầu hồi là hai trụ biểu cao, các mặt thân trụ khắc câu đối chữ Hán, đỉnh đắp búp sen bằng sứ.
Tiền Đường được xây dựng với ba gian hai chái, tường hồi bít đốc tay ngai. Ba gian giữa là không gian chính với hệ cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản. Hai gian chái nhỏ hai bên xây kín, mỗi gian đều trổ một cửa tròn ở giữa. Bên trong Tiền Đường sử dụng kết cấu vì kèo kiểu chồng rường giá chiêng, mỗi gian đặt hương án và tượng thờ được bài trí trang nghiêm, bao gồm các tượng Đức Thánh Hiền, Đức Ông, Hộ Pháp… Đặc biệt, gian hồi bên phải là nơi đặt khám thờ Tiến sĩ Nguyễn Tường, người con ưu tú của làng Cao Cương, từng đỗ tiến sĩ khoa thi Quý Mùi (1463), đời vua Lê Thánh Tông.
Tiếp nối không gian Tiền Đường là Hậu Cung, gồm hai gian xây chạy dọc, thông suốt với gian giữa phía trước. Bên trong, các bậc thờ được thiết kế theo dạng giật cấp, phù hợp với quy chuẩn truyền thống trong thờ tự Phật giáo Bắc Bộ. Tượng Phật được đặt theo trật tự nghi lễ, gồm các pho tượng như: Tam Thế Phật, A Di Đà, Cửu Long,…
Chùa CaO Cương có bộ mái với thiết kế đơn giản, lợp ngói mũi hài, ở hai góc mái xâu trụ vuông thấp bằng gạch.
Nhà Tổ
Phía sau khu Tam Bảo là nhà Tổ, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống với 5 gian, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài. Kết cấu chịu lực bên trong sử dụng hệ vì kèo kiểu quá giang, cột trốn, đặc trưng của kiến trúc gỗ cổ, mang lại sự chắc chắn và thông thoáng cho không gian.
Đây là nơi thờ các vị Tổ sư những người khai sáng hoặc có công lớn với chùa và là nơi tưởng niệm, tri ân và tổ chức các nghi lễ cúng Tổ trong Phật giáo. Bên trong hệ thống tượng thờ các vị Tổ sư được bài trí trang nghiêm, được tạc với tư thế tọa thiền an nhiên, gương mặt đĩnh đạc, tôn nghiêm của các bậc chân tu.
Nhà Mẫu
Nhà Mẫu là không gian thờ Thánh Mẫu, gồm ba gian, mái lợp ngói truyền thống. Bên trong bài trí ban thờ theo từng gian, gian đầu hồi bên trái đặt ban Sơn Trang, thờ các cung nữ hầu cận. Gian giữa là trung tâm thờ tự, bố trí hệ thống 11 pho tượng trong tư thế ngồi: hàng trên cùng là Tam Toà Thánh Mẫu, tiếp đến là Ngũ Vị Tôn Quan, phía dưới là ba tượng Ông Hoàng. Kiến trúc tổng thể mộc mạc, không cầu kỳ về trang trí, tạo nên không gian thanh tịnh, trang nghiêm, phù hợp với tín ngưỡng thờ Mẫu lâu đời trong dân gian.
Vườn Tháp
Trong khuôn viên chùa Cao Cương hiện còn một vườn tháp mộ, được bố trí trong một khuôn viên riêng biệt, ngăn cách bằng những bức tường lửng, có diện tích vừa phải. Bên trong khu vườn có tổng cộng 5 ngôi tháp, được xây dựng theo cùng một kiểu thức kiến trúc ba tầng, tạo nên một tổng thể hài hòa, cân đối.
Chính giữa lối vào là hương án thờ, tiếp đến là ngôi tháp trung tâm, nổi bật nhất về vị trí và kiểu dáng. Phần đỉnh mái của tháp này có thiết kế đặc biệt, gắn bốn con chim phượng quay đầu xuống, đuôi vút cong lên trời, tạo nên điểm nhấn sinh động. Tầng hai của tháp đặt đồ thờ cúng và bia đá khắc tên “Sư Tổ Thích Đàm An”, ghi dấu vị thiền sư khai sơn của chùa.
Bao quanh tháp trung tâm là bốn ngôi tháp ở bốn góc, được xây dựng theo kết cấu và hoa văn giống nhau, trên đỉnh đều gắn búp sen, tạo nên một bố cục hình khối uy nghiêm và trang nghiêm cho không gian tâm linh này.
Di vật
Hiện nay, chùa Cao Cương lưu giữ 28 pho tượng gỗ có niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, các pho tượng đều được chạm khắc công phu, tỉ mỉ, thể hiện giá trị thẩm mỹ và tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân xưa. Đây là những di sản văn hóa quý giá, cần được gìn giữ và bảo tồn lâu dài.
Ngoài hệ thống tượng, chùa còn lưu giữ một số di vật cổ mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn như: 01 bức hoành phi, 02 tấm bia đá, 01 quả chuông đồng, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản vật thể tại di tích.
Xếp hạng
Chùa Cao Cương đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1998.
Tài liệu tham khảo
- Lê Đình Thành (2016), Luận văn thạc sĩ du lịch, Nghiên cứu phát triển du lịch nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì – Hà Nội, Trường Đại Học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 02, Nxb Hà Nội.
- Cổng thông tin huyện Ba Vì.