Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Ngọc Than tọa lạc tại xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Xưa kia, nơi đây là làng Ngọc Than, thuộc xã Ngọc Than, tổng Thạch Thán, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây dưới thời Lê.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, xã Ngọc Than được sáp nhập với hai xã Thạch Thán và Phú Mỹ, hình thành nên xã Bình Than. Đến thời kỳ cải cách ruộng đất, xã Thạch Thán được tách riêng, còn Ngọc Than và Phú Mỹ hợp nhất thành xã Ngọc Mỹ đơn vị hành chính hiện nay.
Về vị trí địa lý, làng Ngọc Than nằm ngay sát thị trấn Quốc Oai, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 20km về phía Tây. Đi theo tuyến đường cao tốc Láng Hòa Lạc khoảng 18km đến thị trấn Quốc Oai, sau đó rẽ trái khoảng 1km là đến di tích đình Ngọc Than một địa chỉ văn hóa tâm linh giàu truyền thống lịch sử.
Đình Ngọc Than là một di tích quan trọng, thờ hai vị anh hùng dân tộc là Lý Bí (Lý Nam Đế) và Phạm Tu, những nhân vật có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.
Lịch sử và nhân vật
Khi mới xây dựng đình chỉ có một toà Đại đình, theo câu đầu ở Đại Đình có dòng lạc khoản “Vĩnh Thịnh thập nhị niên” (1716), tức năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716), thế kỷ XVII. là một trong những di tích có niên đại sớm và còn được bảo tồn tương đối nguyên vẹn trong khu vực huyện Quốc Oai. Tuy nhiên một số văn bia còn lại cho thấy năm Dương Hoà thứ 3 (1637) đã có người trong làng được bầu làm hậu thần, được thờ ở đình; năm Dương Hòa thứ 4 (1638) đã có định lệ hát cửa đình ở đây. Vì vậy, ngôi đình này ít nhất đã có trước năm 1637, nhưng hiện nay dựa vào hai tư liệu có thông tin trên vẫn chưa thể xác định rõ được thời điểm xây dựng đình.
Đình thờ hai vị anh hùng dân tộc là Lý Nam Đế (Lý Bí) và Phạm Tu, những nhân vật lịch sử được nhân dân tôn kính, có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Các sự tích về hai vị thần này hiện vẫn được ghi chép trong thần tích lưu giữ tại đình.
Lý Bí, tức Lý Nam Đế, còn có tên khác là Lý Bôn, là một vị anh hùng kiệt xuất, ông sinh ngày 15 tháng Giêng năm Bính Tuất (506), quê tại Long Hưng – Thái Bình. Tuy nhiên theo cuốn Thế thứ các triều vua Việt Nam có chép rằng: “Lý Nam Đế (542-548), nguyên quán là đất Thái Bình (đất này nay thuộc vùng tiếp giáp giữa huyện Thạch Thất và thị xã Sơn Nguyên quán là đất Thái Bình (đất này nay thuộc vùng tiếp giáp giữa huyện Thạch Thất và thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, hiện chưa rõ năm sinh.”
Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, lớn lên văn võ song toàn, trong thời kỳ loạn lạc, ông từng giữ chức Giám quân ở châu Câu Đức. Vì không cam chịu ách đô hộ tàn bạo của nhà Lương, ông từ quan về quê chiêu mộ hào kiệt, tại đây ông đã đặt quan hệ với hào kiệt các châu như Triệu Túc ở huyện Chu Diên, Tỉnh Thiều và Phạm Tu chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.
Mùa xuân năm 542 khởi nghĩa do Lý Bì lãnh đạo đã nổ ra giành lại nền độc lập tự chủ cho dân tộc. Chưa đầy ba tháng, bè lũ đô hộ nhà Lương đã bị quét sạch, Năm Giáp Tí (544), Lý Bí lên ngôi hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, niên hiệu là Đại Đức (cũng có thư tịch cổ chép là Thiên Đức).
Liên tục trong hai năm (545 và 546), nhà Lương cho quân sang đàn áp. Sau trận thất bại ở hồ Điển Triệt (thuộc Vĩnh Phúc ngày nay), Lý Nam Đế giao quyền bính lại cho Triệu Quang Phục (Triệu Việt Vương) rồi tạm lánh vào động Khuất Lão (thuộc Phú Thọ ngày nay) và mất ở đấy vào năm 548. Sau khi ông mất, nhân dân nhiều nơi đã lập đình, đền thờ ông và các tướng lĩnh trung thành, trong đó có tướng Phạm Tu.
Phạm Tu là một danh tướng thân cận của Lý Bí, được sử sách và truyền thuyết ghi nhận là người thôn Ngọc Than (nay thuộc xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai), hoặc cũng có thuyết cho rằng ông quê ở Thanh Liệt, Hà Nội. Ông từng chiêu mộ dân đinh vùng Ngọc Than gia nhập nghĩa quân, tham gia nhiều trận đánh lớn và lập công xuất sắc, được phong đến chức Thái sư.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đình Ngọc Than còn là nơi gặp gỡ, trao đổi bí mật của các cán bộ cách mạng cấp cao, từng là nơi phát động cuộc tấn công đánh chiếm huyện lỵ Quốc Oai, ghi dấu một thời kỳ lịch sử oanh liệt trong lòng nhân dân.
Với kiến trúc quy mô, giá trị lịch sử phong phú cùng truyền thống văn hóa đặc sắc, đình Ngọc Than xứng đáng là một di tích tiêu biểu, phản ánh chiều sâu lịch sử và tinh thần quật cường của người dân vùng đất Ngọc Mỹ xưa và nay. Đây không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng dân cư địa phương mà còn là một địa chỉ lịch sử – văn hóa tiêu biểu, lưu giữ nhiều giá trị truyền thống lâu đời.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Ngọc Than được xây dựng tại vị trí trung tâm của làng, tọa lạc trên một khu đất rộng rãi và thoáng đãng, mặt đình quay về hướng Tây Bắc. Đây là một vị trí đắc địa theo quan niệm phong thủy truyền thống, vừa thuận lợi cho sinh hoạt cộng đồng, vừa tôn thêm vẻ uy nghiêm cho công trình. Hiện nay đình gồm các hạng mục: Cổng, Đại Đình, Tả/hữu Mạc, Giếng nước. Phía trước cổng là một hồ nước rộng, xung quanh là khu dân cư sinh sống của dân làng.
Cổng
Cổng đình Ngọc Than được thiết kế theo kiểu truyền thống, gồm hai cột trụ chính cao khoảng 5 mét, mang kiểu dáng lồng đèn. Chân cột được tạo dáng thắt cổ bồng, các mặt trên thân cột khắc nổi câu đối chữ Hán. Phía trên đỉnh cột là hình tượng bốn chim phượng lớn, đuôi vểnh cao. Khoảng lồng đèn ở thân cột được trang trí dày đặc các họa tiết rồng, mây, lá cách điệu. Từ hai cột trụ chính nối liền là bức tường lửng cùng cổng phụ hai bên, mở ba lối vào chính dẫn vào sân đình.
Từ cổng nối liền là bức tường được xây bao quanh khuôn viên di tích, bức tường đá ong vững chắc là loại vật liệu đặc trưng của vùng đất xứ Đoài xưa.
Đại Đình
Qua cổng là khoảng sân gạch, gọi là sân chầu, không gian phía trước đình bao gồm giếng nước, sân đình rộng rãi, nơi thường diễn ra các nghi lễ và hoạt động cộng đồng. Hai bên sân có bia đá và những cây cổ thụ lâu đời, gắn bó với làng từ bao đời. Ngay bên cạnh là tấm bia đá có niên đại Chính Hòa năm thứ tư (1683), ghi lại những quy định về lệ hát cửa đình, phản ánh sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng phong phú của cư dân địa phương trong quá khứ.
Đại Đình gồm Tiền Tế và Hậu Cung, được xây dựng theo kiến trúc chữ Nhị, là hai dãy nhà nằm song song cách nhau bằng gian ống muống. Hạng mục công trình này được xây dựng vào thời Nguyễn và được trùng tu vào năm 1946.
Kiến trúc tòa Tiền Tế dựng vào năm Ất Tỵ niên hiệu Thành Thái thứ 17 (1905), với mục đích đáp ứng nhu cầu tế lễ và lễ hội hàng năm, toà có chiều dài 22,3m, rộng 8m, hai đầu đốc xây gạch kín, hai mặt trước và sau bỏ trống. Bốn bề là hiên và ván bưng, các bức cốn, đầu dư đều chạm đầu rồng với những cặp râu rồng hình lưỡi mác, mang phong cách cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII.
Nối liền gian giữa là gian ống muống nối sang toà Hậu Cung, tại gian giữa được bưng ván để thờ. Trước Hậu Cung có hai cửa võng, lớp cửa võng phía trong được làm cùng thời điểm dựng đình (thời Lê), lớp cửa võng bên ngoài được làm thêm vào thời Nguyễn. Trong hậu cung đình thờ ngài Lý Bí (503-548) và võ tướng Phạm Tu (476-545) làm thành hoàng làng.
Kiến trúc của đình Ngọc Than được thiết kế với hệ thống vì kèo đều được dựng kiểu giá chiêng – kẻ suốt. Đây là một dạng thức kiến trúc độc đáo và trung thực nhất của một ngôi đình được xây dựng vào thế kỷ XVII. Bên trong các cấu kiện, được trang trí điêu khắc chủ đạo về đề tài rồng, được tạc với nhiều tư thế rồng nô đùa với các loài vật: thần lần, sóc…, rồng ấn hiện trong mây. Ngoài ra còn có những bức chạm nổi, tượng tròn võ sĩ đánh hỗ, cưỡi voi..
Tả/Hữu Mạc
Phía trước toà Đại đình, hai bên được bố trí hai dãy nhà Tả Mạc và Hữu Mạc, đóng vai trò là không gian phụ trợ phục vụ cho các nghi lễ tại đình. Đây là nơi dân làng chuẩn bị lễ vật, sắp đặt đồ thờ, cũng như cất giữ các vật dụng cần thiết cho những dịp lễ tết, tế tự truyền thống.
Lễ hội
Hằng năm, từ mùng 6 đến mùng 8 tháng Hai âm lịch, tại đình Ngọc Than diễn ra lễ hội truyền thống nhằm tưởng nhớ và tri ân hai vị thần được thờ phụng. Lễ hội không chỉ mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, mà còn là dịp tái hiện sinh động các sự tích lịch sử gắn với công lao của các bậc tiền nhân như: chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị lương thực, khao quân, chiến đấu và lễ báo công khải hoàn.
Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc, đậm chất làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ như: đấu vật, kéo co, hát chèo, hát nhà tơ. Tất cả hòa quyện, tạo nên một không khí lễ hội vừa thiêng liêng, thành kính, vừa rộn ràng, đậm đà bản sắc địa phương.
Di vật
Đình Ngọc Than hiện vẫn còn bảo lưu được nhiều tư liệu và hiện vật quý giá, tiêu biểu như cuốn thần phả cổ, các tấm bia đá, cùng nhiều đồ tế khí và cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa đặc biệt. Đáng chú ý hơn cả là hệ thống chạm khắc gỗ tinh xảo, sinh động, phản ánh trình độ kỹ thuật và mỹ thuật đỉnh cao của nghệ thuật thời Lê Trung Hưng, một thời kỳ rực rỡ trong dòng chảy nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam.
Xếp hạng
Đình Ngọc Than là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu của thế kỷ XVII còn hiện hữu trên đất Hà Tây cũ. Ngày 24 tháng 12 năm 1982 đình Ngọc Than đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật.
Tài liệu tham khảo
- Đặng Văn Tu, Nguyễn Tá Nhí (2011), Địa chí Hà Tây, Nxb Hà Nội.
- Nguyễn Khắc Thuần (2008), Thế thế các triều vua Việt Nam, Nxb Giáo Dục.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 1, Nxb Hà Nội.
