Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Đình Bảng, còn gọi theo tên Nôm là đình Bảng, là một công trình kiến trúc tiêu biểu tọa lạc tại làng Đình Bảng, nay thuộc phường Đình Bảng, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (xưa thuộc tổng Phù Lưu, phủ Từ Sơn).
Ngôi đình là nơi tôn thờ ba vị thần linh thiêng: Cao Sơn Đại vương (thần núi), Thủy Bá Đại vương (thần sông) và Bạch Lệ Đại vương (thần nông), là những biểu tượng gắn liền với tự nhiên và đời sống nông nghiệp của cư dân Việt cổ. Ngoài ra, đình còn phối thờ sáu vị Tổ, những người có công khai phá, lập làng từ thời Lê sơ, được nhân dân tôn vinh như các bậc tiền nhân dựng xây quê hương.
Làng Đình Bảng cũng chính là quê hương của vương triều nhà Lý (1010-1225), một triều đại huy hoàng trong lịch sử dân tộc.
Trải qua bao thăng trầm của thời gian và lịch sử, đình Đình Bảng vẫn được nhân dân địa phương gìn giữ, tu bổ và tôn tạo, trở thành trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa, nơi hội tụ tâm linh của cộng đồng cư dân vùng Kinh Bắc.
Lịch sử và nhân vật
Đình Đình Bảng là một trong những ngôi đình nổi tiếng bậc nhất xứ Kinh Bắc, không chỉ bởi giá trị kiến trúc đặc sắc mà còn bởi chiều sâu văn hóa và lịch sử gắn liền với mảnh đất và con người Đình Bảng.
Ngôi đình được khởi dựng vào đầu thế kỷ XVIII, xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 1700 đến 1736 mới hoàn thành. Công trình có được là nhờ công lao to lớn của ông Nguyễn Thạc Lượng, một vị quan người làng Đình Bảng, từng giữ chức Trấn thủ Thanh Hóa cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Nguyên, quê ở Thanh Hóa. Hai ông bà đã dâng tiến cho làng những khối gỗ lim quý giá, góp phần dựng nên ngôi đình uy nghi và bền vững đến ngày nay.
Đình thờ phụng ba vị Thành hoàng: Cao Sơn Đại vương (thần núi), Thủy Bá Đại vương (thần sông) và Bạch Lệ Đại vương (thần nông). Đồng thời, đình còn phối thờ sáu vị tiên công có công khai lập lại làng vào thế kỷ XV, là đại diện các dòng họ: Trần, Nguyễn, Ngô, Lê, Đỗ và Đặng, những người đặt nền móng cho cộng đồng làng xã tại vùng đất này.
Nơi đây, không chỉ là trung tâm tín ngưỡng, đình Đình Bảng còn là nơi ghi dấu nhiều sự kiện quan trọng trong lịch sử hiện đại Việt Nam. Trong giai đoạn tiền khởi nghĩa (1939-1945), nơi đây từng là địa điểm hoạt động cách mạng của các đồng chí Hoàng Văn Thụ, Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt. Đặc biệt, Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 2 năm 1940) đã được tổ chức tại đây. Tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cũng đã mở rộng hội nghị tại đình và ra chỉ thị lịch sử: Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta chỉ đạo trực tiếp phong trào cách mạng toàn quốc.
Đình Đình Bảng còn vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần về thăm trong các năm 1945, 1946 và 1955. Trong kháng chiến chống Pháp, nơi đây từng được chọn làm địa điểm dự phòng cho kỳ họp Quốc hội khóa I, minh chứng cho vị thế đặc biệt của ngôi đình trong đời sống chính trị xã hội dân tộc.
Với giá trị to lớn về văn hóa, lịch sử và kiến trúc, đình Đình Bảng đã được Chính phủ xếp hạng Di tích cấp Quốc gia, và nhiều lần được trùng tu, tôn tạo để gìn giữ như một di sản văn hóa quý báu của vùng Kinh Bắc.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Đình Bảng nằm ở vị trí trung tâm của làng, phía trước đình là một hồ nước lớn, bao quanh hồ là hệ thống tường rào bằng đá được xây dựng kiên cố, để đảm bảo an toàn. Ở tường rào vị trí đối diện với cổng đình là một bức bình phong đá có hình dáng cuốn thư với kích thước lớn, được chạm khắc tinh xảo các họa tiết rồng, phượng.
Hiện nay, tổng thể kiến trúc đình gồm nhiều hạng mục quy mô và cổ kính: Nghi Môn, Đại đình, Miếu Giếng Đình, Nhà Thờ, Nhà Khách, tạo nên một quần thể hài hòa, giàu giá trị văn hóa và tín ngưỡng.
Dân gian xưa từng truyền tụng câu ca khẳng định vị thế của đình Đình Bảng trong không gian văn hóa Kinh Bắc:
Thứ nhất là đình Đông Khang,
Thứ nhì đình Bảng, vẻ vang đình Diềm.
Câu ca không chỉ là lời ngợi ca về quy mô và vẻ đẹp kiến trúc, mà còn thể hiện sự tự hào của người dân đối với những ngôi đình tiêu biểu, tiêu biểu cho hồn cốt làng quê xứ Bắc.
Nghi Môn
Từ hồ nước bước qua là đến cổng đình được ngăn cách bởi con đường làng chạy qua, Nghi Môn đình được xây dựng lại mới, gồm bốn trụ tạo thành ba lối cửa ra vào. Ở chính giữa là lối vào trung tâm, nổi bật với hai trụ biểu cao hơn 3 mét, kiểu dáng lồng đèn, thân trụ được đắp nổi câu đối bằng chữ Hán chạy dọc thân cột.
Nối giữa trụ biểu và hai cổng phụ hai bên là bức tường lửng, bề mặt được trang trí hoa văn cây lá mềm mại, tạo sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan. Hai bên là hai cổng phụ nhỏ, mang kiểu mái chồng diêm hai tầng, có kích thước vừa phải, được bố trí đối xứng, làm tăng thêm tính cân đối. Đây là lối đi phụ dành cho dân làng và khách hành hương khi vào đình trong các dịp lễ hội hoặc sinh hoạt thường ngày.
Đại Đình
Bước qua cổng đình là khoảng sân rộng được lát đá, trong sân là những cây cổ thụ tỏa mát quanh năm. Chính giữa sân là lối dẫn vào tòa Đại đình, trung tâm kiến trúc và tâm linh của toàn bộ di tích.
Tòa Đại đình có quy mô đồ sộ, được thiết kế theo kiến trúc hình chữ Công (工), gồm ba phần chính: Tiền Đường (Đại Bái), Thiêu Hương, và Hậu Cung. Công trình được làm hoàn toàn bằng gỗ lim, nổi bật với kỹ thuật chạm khắc và lắp ghép tinh xảo theo lối mộng gỗ truyền thống, không dùng đinh sắt. Theo sử liệu và truyền miệng, đình được dựng nhờ hai hiệp thợ lớn, chia làm hai mảng Đông – Tây, thi công liên tục suốt 36 năm mới hoàn thành.
Tiền Đường gồm bảy gian rộng, trong đó gian giữa thiết kế theo kiểu lòng thuyền, thấp hơn các gian còn lại, đặt ban thờ Công đồng. Hai gian bên là nơi hội họp của dân làng, sàn được nâng cao, thoáng rộng. Toàn bộ không gian sử dụng cột gỗ lim kích thước lớn, đặt trên chân tảng đá xanh vững chãi, chịu lực cho phần mái đình.
Nối liền Tiền Đường và Hậu Cung là tòa Thiêu Hương gồm ba gian, di chuyển qua vào gian Hậu Cung.
Hậu Cung là gian phía sau, có kết cấu chồng rường giá chiêng vững chắc. Bên trong các gian thờ đều đặt hương án lớn, được sơn son thếp vàng rực rỡ, với hoa văn, họa tiết chạm khắc tinh xảo. Trước các gian thờ đặt chim hạc, pháp khí, và nhiều đồ thờ cúng truyền thống. Trước ban thờ có đặt bộ Bát Bửu, các bài vị đều được đặt trang trọng trong khám thờ bằng kính, tôn nghiêm và bền vững theo thời gian. Hậu cung chỉ được mở cửa vào những ngày lễ trọng, còn lại thường xuyên đóng kín để bảo tồn sự thiêng liêng.
Không gian Hậu cung nổi bật với bức cửa võng lớn, được chạm lộng kênh bong nhiều lớp dày đặc chi tiết nhiều đề tài khác nhau. Đây là khu vực thờ chính ba vị Thành hoàng làng, Cao Sơn Đại vương Trác Vĩ, Thủy Bá Đại vương Hoành Hiệp, Bạch Lệ Đại vương Thần Chính, cả ba đều được sắc phong là Dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Bên trong khám thờ có đặt bộ mũ quan.
Hai gian phụ hai bên Hậu Cung là nơi thờ Lục tổ khai làng, gồm các vị: Nguyễn Tự Thọ, Trần Hữu Bảo, Ngô Văn Chửng, Lê Kim Toán, Đỗ Cự Tình, Đặng Văn Thái. Bên trong khám là các bài vị của từng vị riêng biệt gồm 6 bài vị.
Toàn bộ ngôi đình nổi bật với hệ thống 60 cột cái bằng gỗ lim, tạo nên 6 hàng chân cột đồ sộ. Mái đình tỏa rộng, được lợp ngói mũi hài, kết cấu tám mái cổ kính, với đầu đao uốn cong hình rồng, hai đầu hồi trang trí hổ phù và hoa văn cách điệu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII.
Nghệ thuật điêu khắc tại đình Đình Bảng với những đề tài giàu ý nghĩa như: Long vân đại hội, Ngũ long tranh châu, Bát mã quần phi, Lưỡng nghi phục chầu. Phần đầu dư xà hạ được chạm khắc hình nghê chầu, dáng ngồi xổm, chân chống thẳng đầy sinh động và biểu cảm.
Miếu giếng đình
Nằm ở phía sau đình là Miếu Giếng Đình, ngôi miếu thờ Ngũ Hổ được xây dựng vào năm 2018, là một công trình nhỏ nhưng mang đậm giá trị tín ngưỡng dân gian. Phía trước miếu là giếng tròn.
Miếu gồm một gian nhỏ, bên trong bài trí ban thờ Ngũ Hổ, năm vị thần hổ tượng trưng cho ngũ hành và năng lực bảo hộ, trấn trạch. Ngôi miếu được người dân địa phương hương khói, thể hiện lòng thành kính đối với các vị hộ pháp linh thiêng.
Nhà Thờ
Tọa lạc ở phía bên trái, ngay từ cổng bước vào, là nhà thờ gồm ba gian, với lối kiến trúc hiện đại, mái lợp ngói đỏ. Bên trong gian giữa đặt ban thờ, bên trên có bài vị đặt trong khám thờ, đây là nơi thờ cụ Nguyễn Tiến Hưởng, người có công lao với đình làng.
Gian bên cạnh được bày trí thờ Thổ Công, Thổ Địa, những vị thần cai quản đất đai, nhà cửa, mang ý nghĩa cầu cho sự yên ổn, an lành và thịnh vượng cho cộng đồng.
Nhà Khách
Kế bên khu Nhà thờ là hai ngôi nhà khách, mỗi ngôi nhà gồm ba gian, được xây dựng với kiến trúc đơn giản, hài hòa với tổng thể không gian đình. Đây là nơi dùng để cất giữ các vật dụng sinh hoạt, đồ dùng phục vụ các hoạt động lễ nghi, hội họp trong đình.
Nhà Khách đóng vai trò thiết thực, góp phần đảm bảo cho sinh hoạt cộng đồng tại đình diễn ra đầy đủ và trang trọng.
Di vật
Bên trong đình hiện còn lưu giữ nhiều di vật cổ quý giá, phản ánh nghệ thuật và tín ngưỡng truyền thống qua các triều đại, đặc biệt là thời Lê và Nguyễn. Tiêu biểu như: những mảng chạm khắc trang trí, ngai thờ, hương án, tượng đá chó thời Nguyễn, bộ bát bửu, câu đối cổ được chạm khắc công phu, sơn son thếp vàng lộng lẫy.
Ngoài ra, đình còn lưu giữ nhiều sắc phong do các triều vua ban tặng minh chứng cho vị thế và sự linh thiêng của di tích trong đời sống văn hóa làng xã xưa.
Lễ hội
Hằng năm, lễ hội đình Đình Bảng được chính quyền và nhân dân địa phương long trọng tổ chức từ ngày 14 đến 16 tháng Hai Âm lịch, nhằm tưởng nhớ và tri ân các bậc tiền nhân, các vị Thành hoàng làng và Lục tổ có công dựng làng, lập ấp.
Trong những ngày hội, người dân làng góp mặt đông đủ để dâng lễ vật, những sản vật địa phương trong nghi lễ tế thần trang nghiêm và thành kính. Sau phần lễ là phần hội với nhiều hoạt động vui chơi, văn hóa dân gian đặc sắc như thi đấu vật truyền thống được tổ chức ngay tại sân đình nơi thu hút đông đảo người xem và tham gia.
Đặc biệt, du khách còn được thưởng thức hát Quan họ trên thuyền, một nét văn hóa tiêu biểu của vùng Kinh Bắc với sự góp mặt của các liền anh, liền chị cất lên làn điệu ngọt ngào, vang vọng bên hồ đình trong không gian lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc.
Xếp hạng
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật kiến trúc, đình Đình Bảng đã sớm được Nhà nước công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia từ năm 1961.
Đặc biệt, ngày 26/11/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long đã ký ban hành Quyết định số 1473/QĐ-TTg, xếp hạng đình Đình Bảng là Di tích Quốc gia đặc biệt (đợt 16), cùng với 5 di tích tiêu biểu khác trên cả nước.
Tài liệu tham khảo
- Tăng Bá Hoành, “Vị Thế của đình làng trong đời sống của người Việt”, Tạp chí Di sản văn hoá, số 6- 2004.
- Vũ Tam Lang (2008) , Kiến trúc chùa cổ Việt Nam, Nxb Xây Dựng.
- Lưu Minh Trị (2004), Danh thắng, Di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II), Nxb Hà Nội.
- Đình Đình Bảng được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt, kênh HTV – Đài Hà Nội
- Đình Đình Bảng được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt, kênh Truyền hình Bắc Ninh