- Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Phó trưởng ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer.
- Ủy viên Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Phó trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Kiên Giang.
- Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh Kiên Giang.
- Ủy viên Hội hữu nghị Việt Nam – Campuchia.
- Hiệu phó Trường Trung cấp Phật học.
- Ủy viên Hội Liên hiệp các tổ chức hữu nghị.
- Hiệu trưởng Trường Pali – Kinh Luận Giới tỉnh Kiên Giang.
- Nguyên hiệu trưởng Trường Thanh Niên Dân Tộc Nội Trú tỉnh Kiên Giang.
- Trụ trì chùa Khmer Rạch Sỏi.
Xuất thân
Hòa thượng Punnathero, thế danh Danh Dĩnh, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1948, tại phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nguyên quán tại khu phố 3, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Trong một gia đình trung nông gồm có 8 người con, Ngài là con đầu lòng của cụ ông Danh Thinh và cụ bà Thị Sự.
Thuở bé thơ Ngài là một đứa con chăm ngoan hiếu hạnh. Năm 17 tuổi Ngài xuất gia với Hòa thượng Danh Dinh tại chùa Khmer Rạch Sỏi, và thọ giới Tỳ khưu năm 21 tuổi (1969), tại chùa Khmer Rạch Sỏi, khu phố 3, phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang do Hòa thượng Nam Quân tế độ.
Những đóng góp cho đạo pháp và dân tộc
Ngài sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước lầm than đau khổ, đạo pháp không được xiển dương. Từ đó Ngài đã sớm giác ngộ cách mạng, tích cực tham gia hoạt động bí mật trong lòng địch, ủng hộ các phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiểu rõ giáo pháp bất ly thế gian pháp, thấm nhuần tư tưởng cách mạng và truyền thống yêu nước nồng nàn của cha ông ta, nên từ ngày đầu tháng 6 năm 1974 Ngài đã tham gia trong phiên họp Ban Chỉ đạo cho cuộc biểu tình chống Mỹ Ngụy bắt Sư sãi đi lính, cuộc biểu tình của hàng ngàn sư sãi và Phật tử Khmer trong toàn tỉnh diễn ra vào ngày 10 tháng 6 năm 1974 làm cho 4 vị sư hy sinh vì đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, Bắc Nam chung một nhà, non sông liền một dải, Phật giáo Việt Nam được thống nhất, Ngài là đại biểu đại diện cho chư Tăng và Phật tử Khmer miền Nam ra Hà Nội tham gia trong Hội nghị Thống nhất Phật giáo toàn quốc.
Trải qua các chức vụ như từ một vị trụ trì chùa, đến Phó Chủ tịch Thường trực Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh, Phó Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh, Phó Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương, Ủy viên Ban Phật giáo Quốc tế, Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh nhiệm V, nhiệm kỳ VI. Ngài đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với đạo pháp và dân tộc, đặc biệt là sự phối kết hợp một cách hài hòa giữa hai hệ phái Phật giáo Nam và Bắc tông, trong một ngôi nhà chung sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng.
Nhờ sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các bộ, ban, ngành liên quan, Ngài đã cùng chư Tôn giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội đi đến nhiều khu vực, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long để trao đổi và tháo gỡ những vướng mắc khó khăn trong việc kiện toàn hệ thống tổ chức tôn giáo. Ngoài ra Ngài thường nhắc nhở các vị tu sĩ và phật tử tại gia phải đoàn kết tốt, chấp hành kỷ cương phép nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương do Đảng, Nhà nước khởi xướng như: “Cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, phong trào xóa đói giảm nghèo, phong trào xóa mù chữ trong đồng bào dân tộc, v.v.. Lúc chiến tranh Ngài nuôi chứa cách mạng yêu nước, lúc giải phóng Ngài nuôi các em thanh thiếu niên sinh viên học sinh đến tạm trú học tại chùa.
Đối với chùa chiền Ngài luôn nhắc nhở các vị trụ trì lãnh đạo các nơi thờ tự, phải có kế hoạch xây dựng phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc, động viên sư sãi và phật tử yên tâm tu hành tinh tấn, tích cực tham gia sản xuất để giảm bớt sự đóng góp của phật tử tại gia, chùa nào có công trình nào xuống cấp Ngài kêu gọi công đức để trùng tu sửa chữa, nơi nào chưa có chùa Ngài đã tích cực trao đổi với các ngành xin phép để xây dựng mới, bên cạnh đó Ngài còn tế độ cho hàng trăm đệ tử được xuất gia, hàng ngàn nam nữ phật tử được am tường Phật pháp.
Về sự nghiệp giáo dục đào tạo chư Tăng và phật tử tại gia để kế thừa sứ mệnh Phật pháp, cũng như nâng cao trình độ kiến thức cho đồng bào dân tộc, Ngài là hiệu trưởng Trường Thanh niên Dân tộc Nội trú tỉnh Kiên Giang (nay là Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Kiên Giang), Hiệu phó Trường Trung cấp Phật học, Hiệu trưởng Trường Pali và Kinh Luận Giới tỉnh Kiên Giang. Ngài cùng với quý Hòa thượng hệ Nam tông đã đóng góp tích cực việc xây dựng khối đoàn kết các dân tộc trong tỉnh và đoàn kết thống nhất các tổ chức, hệ phái của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Thời gian cứ trôi qua, tuổi Ngài một cao hơn, sức khỏe của Ngài lại càng yếu dần, đến năm 2002 Ngài lâm trọng bệnh (tai biến) nhưng do Ngài là một vị uyên thâm về thuốc nam trị liệu nên Ngài qua khỏi cơn bệnh đó và tiếp tục cống hiến sức lực và trí tuệ cho đạo pháp và dân tộc, sau đó Ngài vẫn thường xuyên đến thăm hỏi, động viên chư Tăng ở các chùa, tham gia các hội nghị trong và ngoài tỉnh.
Với tư cách là Phó viện trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, Ngài thường đến Học viện để động viên cán bộ, giảng viên, học viên, Tăng sinh, và một thời Ngài trực tiếp đứng lớp giảng dạy cho Tăng sinh những bài học đầu tiên, hàng tháng Ngài đều tham gia cuộc họp của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh, cuộc họp của Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh, khi các chùa có lễ lớn như Khánh thành các công trình trong chùa, lễ Kiết Giới Sima Chánh Điện, v.v.. Ngài thường đến chủ trì và chỉ đạo cho cuộc lễ được viên thành công đức.
Qua 30 năm xây dựng và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài đã có nhiều đóng góp cho những thành tựu Phật sự chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài đã trở thành một cầu nối giữa đạo và đời, giữa người dân với Đảng như: Ngài đã được cử tri trong toàn tỉnh bỏ phiếu tín nhiệm làm Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Kiên Giang 2 nhiệm kỳ liên tục.
Đối với công tác phật sự quốc tế, với cương vị là một Ủy viên Hội liên hiệp các tổ chức hữu nghị, Ủy viên Hội hữu nghị Việt Nam – Campuchia, Ngài đã đến thăm làm việc và tham gia nhiều Hội nghị Tôn giáo quốc tế. Ngài đã chủ trì nhiều buổi làm việc tiếp nhiều vị khách trong và ngoài nước đến thăm và làm việc với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh và Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh. Những vị khách được Ngài tiếp đều nhận được tình cảm ân cần nồng hậu từ Ngài, từ đó hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đặc biệt là dân tộc Khmer, cùng như Giáo hội và Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh đều được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Với tinh thần phụng sự đạo pháp và chúng sanh, Ngài đã thường xuyên mở các lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật tại chùa, thường xuyên đến thăm và tặng quà các trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi, trẻ em khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam, đến thăm những chùa, những nơi nuôi dưỡng người già không nơi nương tựa, chỉ đạo dạy cách mở khóa thiền tại các chùa trong tỉnh, gia đình nghèo khó được Ngài xây tặng nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, Ngài tham gia tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ ở địa phương, Ngoài ra Ngài còn tham gia đóng góp cho Hội người cao tuổi, Hội chữ Thập đỏ để xây dựng chính sách về an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện và tốt đẹp hơn.
Bất kỳ ở vị trí cương vị nào, Ngài cũng nhận được tình cảm tôn kính đặc biệt của Chư tăng và phật tử khắp mọi nơi, được Đảng và Nhà nước trao tặng cho Ngài nhiều phần thưởng cao quý như: Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huy chương Vì sự nghiệp phát triển Dân tộc và Miền núi; Kỷ niệm chương “Vì hòa bình, Hữu nghị giữa các Dân tộc”; Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các Dân tộc; 2 Bằng khen của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 1 Bằng khen đạt thành tích trong công tác mặt trận phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; 1 Bằng khen đã có thành tích xuất sắc xây dựng khối đại đoàn kết Dân tộc; 5 Bằng khen của Ủy ban Nhân dân tỉnh; 6 Bằng khen của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh và Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước tỉnh đã tặng nhiều Bằng tuyên dương công đức. Quả thật Ngài là một tấm gương sáng đáng cho hàng hậu thế noi theo.
Thời kỳ lâm bệnh
Từ giữa năm 2002 Ngài bắt đầu lâm bệnh, sức khỏe Ngài lại càng yếu đi nhưng mọi công tác phật sự Ngài vẫn tham gia chỉ đạo, Ngài tập trung một số công việc quan trọng như: ở các chùa chưa có trụ trì, những nơi được Nhà nước cấp phép thành lập chùa, đi tham dự và phát biểu chỉ đạo các cuộc Đại hội Đại biểu Phật giáo ở các huyện trong tỉnh, các Hội nghị tổng kết công tác phật sự của Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước ở các huyện trong năm 2012. Sau Tết Nguyên Đán vào ngày mùng 5 tết Ngài còn cung nghinh Ngọc Xá Lợi Phật và Tam Tạng Kinh điển đi ba vòng nhiều phát, Ngài còn là cố vấn Hội đồng thi Pali và Kinh Luận Giới của tỉnh năm 2012.
Từ đó cả chư Tăng và phật tử tưởng rằng Ngài đã thoát khỏi cơn bệnh và trụ thế lâu dài hơn nữa, để làm cội bồ đề che bóng mát cho các cấp Giáo hội tại địa phương, tỏa sáng đến toàn thể chư Tăng và đông đảo tín đồ phật tử cư sĩ tại gia. Nhưng đến rạng sáng Thứ Tư ngày 01 tháng 02 năm 2012 nhằm ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Thìn Phật lịch 2555, căn bệnh cũ tái phát, các vị đệ tử đã cấp tốc đưa Ngài đến điều trị tại bệnh viện Bình An của tỉnh Kiên Giang, dù được nhiều Bác sĩ, Lương y Bệnh viện Bình An, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Kiên Giang và sự hỗ trợ của Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh đến khám và điều trị, nhiều vị chư Tăng và phật tử nguyện cầu lo liệu, nhưng định luật vô thường của vạn vật phải tuân theo pháp hữu vi đều không bền vững, nên Ngài đã an nhiên thu thần thị tịch vào hồi 21 giờ Thứ Tư ngày 01 tháng 2 năm 2012, nhằm ngày 10 tháng Giêng năm Nhâm Thìn Phật lịch 2555. Trụ thế 64 năm, với 45 hạ lạp xuất gia hành đạo tu tâm dưỡng tánh theo giáo lý nhà Phật, sống trong cảnh thiền môn thanh tịnh.
Trước sự ra đi của Ngài đã để lại cho môn đồ tứ chúng niềm tiếc thương vô hạn. Hình ảnh của Ngài mãi mãi là tấm gương sáng chói về tinh thần phụng sự đạo pháp và dân tộc.
Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.