Vô đề
Kí hiệu: không có
Thác bản bia thôn Sơn, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Thác bản 2 mặt, khổ 50 x 85 cm, gồm 18 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 600 chữ, không có hoa văn.
Niên đại: Minh Mệnh thứ 16 (1835)
Người soạn: Không rõ
Người viết: Không rõ
Người lập: cụ Trịnh Bá Triêm, bậc cao niên thôn Sơn, xã Tất Tác
Toàn văn
Mặt trước
Nguyên văn chữ Hán
河中府,厚祿縣,大里總,漆作社,山村。前朝該合鄉中耆老鄭伯[霑],爲立碑記事。想自結縭伊始勤以得之倫,以裕之渙,成壹家氣象。茲以年外捌旬饒登上壽,寔[递] 祖澤之貽,乃有此茲基,有此[祠堂]。其如田園土宅,既均分眾子孫,遺于[冊道]。今存養老田池叁畝,柒高,柒尺,五寸以爲四時[][],欲留爲身後之葬,名百世不遷之芳跡。凡我子孫預科場者,錫以勸學田叁高;凡從兵事者亦以次均急另田弍高,其祭田,學田另田分爲九人分耕。其田園各處所及東西等第列計于後,留爲永式,不得専賣。形于筆批不若銘于石碑所以壽其傳云。再記曰:
恭惟祖考
功德如天
克昌厥後
子孝孫賢
仰承先蔭
克享壽延
祠堂既立
時祀式虔
祭田數畝
香火億年
酬勞勸善
學田另田
于以耀後
于以昭前
用銘于石
以壽其傳。
一例祭田,本族生下子孫之多,其分耕只許家長耕田行禮,毋得均分與次子永遵此例。
一例至期行禮,每分耕給禮錢叁貫,其剛柔米隨宜辨用,不在此例。
皇朝明命拾陸年,歲在乙未,玖月,初捌日立碑文。
Phiên âm
Hà Trung phủ, Hậu Lộc huyện, Đại Lý tổng, Tất Tác xã, Sơn thôn. Tiền triều Cai hợp hương trung kỳ lão Trịnh Bá [Triêm], vi lập bi ký sự.
Tưởng tự kết ly y thủy cần dĩ đắc chi luân, dĩ dụ chi hoán, thành nhất gia khí tượng. Tư dĩ niên ngoại bát tuần nhiêu đăng thượng thọ, thực [đệ] tổ trạch chi di, nãi hữu thử tư cơ, hữu thử [từ đường]. Kỳ như điền viên thổ trạch, ký quân phân chúng tử tôn, di vu [sách đạo]. Kim tồn dưỡng lão điền trì tam mẫu, thất cao, thất xích, ngũ thốn dĩ vi tứ thời [][], dục lưu vi thân hậu chi táng, danh bách thế bất thiên chi phương tích. Phàm ngã tử tôn dự khoa trường giả, tích dĩ khuyến học điền tam cao; phàm tòng binh sự giả diệc dĩ thứ quân cấp lánh điền nhị cao, kỳ tế điền, học điền lánh điền phân vi cửu nhân phân canh. Kỳ điền viên các xứ sở cập Đông Tây đẳng đệ liệt kê vu hậu, lưu vi vĩnh thức, bất đắc chuyên mại. Hình vu bút phê bất nhược minh vu thạch bi sở dĩ thọ kỳ truyền vân. Tái ký viết:
Cung duy tổ khảo
Công đức như thiên
Khắc xương quyết hậu
Tử hiếu tôn hiền
Ngưỡng thừa tiên ấm
Khắc hưởng thọ diên
Từ đường ký lập
Thời tự thức kiền
Tế điền sổ mẫu
Hương hỏa ức niên
Thù lao khuyến thiện
Học điền lánh điền
Vu dĩ diệu hậu
Vu dĩ chiêu tiền
Dụng minh vu thạch
Dĩ thọ kỳ truyền.
Nhất lệ tế điền, bản tộc sinh hạ tử tôn chi đa, kỳ phân canh chỉ hứa gia trưởng, canh điền hành lễ, vô đắc quân phân dữ thứ tử vĩnh tuân thử lệ.
Nhất lệ chí kỳ hành lễ, mỗi phân canh cấp lễ tiền tam quán, kỳ cương nhu mễ tùy nghi biện dụng, bất tại thử lệ.
Hoàng triều Minh Mệnh thập lục niên, tuế tại Ất Mùi, cửu nguyệt, sơ bát nhật lập bi văn.
Dịch nghĩa
Thôn Sơn, xã Tất Tác, tổng Đại Lý, huyện Hậu Lộc, phủ Hà Trung. Trịnh Bá Triêm, bậc cao tuổi trong làng [hương trung kỳ lão[1]], triều vua trước [tiền triều[2]] làm chức Cai hợp, vì việc lập bia ghi chép.
Suy nghĩ rằng, kể từ khi nên duyên vợ chồng [kết ly][3], nương theo sự cần cù từ thủa ban đầu mà nên thứ bậc, mà phát triển sung túc, thành một nhà gia phong nền nếp. Nay vì tuổi đã ngoài tám mươi, lên hàng thượng thọ, ấy thực là được (kế thừa) ân trạch tổ tiên để lại, cho nên có được nền móng này, có được (nhà từ đường) này. Còn như ruộng vườn, đất nhà ở, đã chia đều cho các con các cháu, có (ghi chép) để lại trong [sách]. Nay còn ruộng và ao dưỡng lão 3 mẫu, 7 sào, 7 thước, 5 tấc dùng để bốn mùa [][], lòng muốn giữ làm chi phí cho tang lễ sau khi mất, ấy cũng gọi là di vật thiện lành muôn đời không đổi.
Phàm là các con, các cháu của tôi mà có tham dự khoa trường[4], thì chi cho ruộng học điền 3 sào; phàm là người theo việc nhà binh, cũng theo thứ tự mà cấp cho ruộng lính [lánh điền[5]] 3 sào, những ruộng tế, ruộng học điền, ruộng lính đã giao cho 9 (chín) người chia nhau canh tác.
Những thửa ruộng vườn ấy, tọa lạc tại các xứ đồng, và các phía Đông Tây tiếp giáp thế nào, đều theo thứ tự liệt kê ra sau, giữ làm khuôn phép mãi mãi, không ai được tự ý riêng đem bán. Dùng bút viết thành chữ chưa bằng khắc vào bia đá, làm như thế để lưu truyền lâu dài ấy vậy.
Lại làm bài ký rằng:
Kính nghĩ tổ khảo
Công đức như trời
Phúc lành truyền lại
Con hiếu cháu hiền
Ngẩng nối phúc ấm
Thực hưởng thọ dài
Từ đường đã lập
Thời tế kính thành
Ruộng tế mấy mẫu
Hương hỏa muôn năm
Báo ơn khuyến thiện
Học điền lính điền
Rạng truyền đời sau
Vẻ vang đời trước
Việc khắc vào đá
Lưu giữ mãi truyền.
Định lệ ruộng tế, họ nhà ta sinh các con các cháu đông đúc, nhưng việc chia cho cày cấy chỉ giao cho con trưởng canh tác thu hoa lợi để thực hành tế lễ, không được chia đều cho các con thứ, mãi mãi tuân theo lệ định này.
Định lệ đến khi thi hành lễ, mỗi phần canh tác cấp cho lễ số tiền 3 quan, còn như gạo tẻ gạo nếp thì tùy nghi sắm biện, không cần tuân theo định lệ này.
Ngày 8 tháng 9 năm Ất Mùi – năm thứ 16 niên hiệu Minh Mệnh (tức Dương lịch năm 1835) tạo lập văn bia.
Mặt sau
Nguyên văn chữ Hán
一夏田一畝八高六尺;一所同並處;一所一高十三尺;一所一高;一所十二尺;一所十二尺;一所二高七尺五寸;一所一高七尺五寸。
一所六尺;一所二高;一所五高;一所同[謬] 一高;一所同東一高七尺五寸;一所同裴十四尺;一所十二尺。
一秋田一所𡑱 遁/七尺五寸;一所七尺;一所四尺;一所七尺五寸;一所六尺;一所十二尺;一所𡏢/ 耒裴村十四尺;一所午村𨴦𨍦九尺。
一秧田一所𨴦𡧲六尺;一所𨴦東六尺;一所一尺五寸;一所多[] 一尺五寸;一所塘垃三尺;一所三尺;一所𨴦 旱六尺;一所同河三尺;一所四尺五寸;一所天馬度塔六尺。
一池𨴦上二高七尺五寸。
一青錢五十貫。
Phiên âm
Nhất Hạ điền nhất mẫu bát cao lục xích; nhất sở Đồng Tịnh xứ; nhất sở nhất cao thập tam xích; nhất sở nhất cao; nhất sở thập nhị xích; nhất sở thập nhị xích; nhất sở nhị cao thất xích ngũ thốn; nhất sở nhất cao thất xích ngũ thốn.
Nhất sở lục xích; nhất sở nhị cao; nhất sở ngũ cao; nhất sở Đồng [Mậu] nhất cao; nhất sở Đồng Đông nhất cao thất xích ngũ thốn; nhất sở Đồng Bùi thập tứ xích; nhất sở thập nhị xích.
Nhất Thu điền nhất sở Cồn Tuần/ Độn thất xích ngũ thốn; nhất sở thất xích; nhất sở tứ xích; nhất sở thất xích ngũ thốn; nhất sở lục xích; nhất sở thập nhị xích; nhất sở Mả Lai/ Lỗi Bùi thôn thập tứ xích; nhất sở Ngọ thôn Cửa Sau cửu xích.
Nhất ương điền nhất sở Cửa Trong lục xích; nhất sở Cửa Đông lục xích; nhất sở nhất xích ngũ thốn; nhất sở Đa [] nhất xích ngũ thốn; nhất sở Đường Lập tam xích; nhất sở tam xích; nhất sở Cửa Hạn lục xích; nhất sở Đồng Hà tam xích; nhất sở tứ xích ngũ thốn; nhất sở Thiên Mã Độ Tháp lục xích.
Nhất trì Cửa Thượng nhị cao thất xích ngũ thốn.
Nhất thanh tiền ngũ thập quán.
Dịch nghĩa
Ruộng Hạ, 1 mẫu 8 sào 6 thước; một thửa tại xứ Đồng Tịnh; một thửa 1 sào 13 thước; một thửa 1 sào; một thửa 12 thước; một thửa 12 thước; một thửa 2 sào 7 thước 5 tấc; một thửa 1 sào 7 thước 5 tấc.
Một thửa 6 thước; một thửa 2 sào; một thửa 5 sào; một thửa xứ Đồng [Mậu] 1 sào; một thửa xứ Đồng Đông 1 sào 7 thước 5 tấc; một thửa tại xứ Đồng Bùi 14 thước; một thửa 12 thước.
Ruộng mùa Thu, một thửa tại xứ Cồn Đồn/ Tuần 7 thước 5 tấc; một thửa 7 thước; một thửa 4 thước; một thửa 7 thước 5 tấc; một thửa 6 thước; một thửa 12 thước; một thửa tại xứ Mả Lai/ Lỗi thôn Bùi 14 thước; một thửa tại xứ Cửa Sau thôn Ngọ 9 thước.
Ruộng mạ, một thửa tại xứ Cửa Trong 6 thước; một thửa tại xứ Cửa Đông 6 thước; một thửa 1 thước 5 tấc; một thửa tại xứ Đa [] 1 thước 5 tấc; một thửa tại xứ Đường Khắp 3 thước; một thửa 3 thước; một thửa tại xứ Cửa Hạn 6 thước; một thửa tại xứ Đồng Hà 3 thước; một thửa 4 thước 5 tấc; một thửa tại xứ Thiên Mã Độ Tháp 6 thước.
Một mảnh ao tại xứ Cửa Thượng 2 sào 7 thước 5 tấc.
Tiền xanh 50 quan.
[1] Hương trung kỳ lão: Bậc cao tuổi ở trong làng xóm.
[2] Tiền triều: Nguyên nghĩa là Triều đại vua trước, tức trước thời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn là triều nhà Tây Sơn, hoặc triều Lê. Cách hiểu thứ hai: triều vua trước, tức triều vua Gia Long (1802-1820).
[3] Kết ly: Kết là thắt nút buộc lại, ly là mảnh khăn trùm trên đầu cô dâu trong lễ kết hôn. Kết ly chỉ việc nên duyên vợ chồng.
[4] Tức nói việc tham gia đi học và thi cử.
[5] Lánh điền: Có hai cái đọc mà nghĩa cũng có thể hợp lý. 1 đọc theo âm Hán Việt là lánh điền nghĩa là ruộng riêng, 2 đọc Nôm là Lính điền, ruộng cho người tham gia quân ngũ. Trong trường hợp này là ruộng lính.