Hội làng Nghè (Cầu Giấy, Hà Nội)

Hội làng Nghè (Cầu Giấy, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Địa điểm

Làng Nghè, tên chữ là Trung Nha, thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy. Xưa kia, trai làng giỏi nghề canh cửi, ngoài ra lại biết nghề làm giấy. Loại giấy bền, dai, dùng viết sắc chỉ, sớ tấu, biểu lệnh… Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh in trên loại giấy này.

Trai làng Nghè dệt chỉ kéo hoa
An Phú nấu kẹo mạch nha ngọt lừ.

hoặc:

Trung Kính làm giấy vàng hương
Nghĩa Đô làm giấy để làng tà văn.

“Nghè” là tiếng địa phương chỉ hai ông táo hay hai người giã vào xếp giường cúng tang.

Nhân vật thờ tự

  • Tướng quân Trần Công Tích
  • Hoàng hậu Hồng nương. Phu nhân Quế nương

Các cụ cho biết, ngày ấy có gia đình ông bà Lê Nghiêm và Nguyễn Thị Minh sinh đôi hai gái, đặt tên là Hồng nương và Quế nương. Hai chị em càng lớn càng xinh, lại nổi tiếng nết na, giỏi việc nội trợ nên vào tuổi trưởng thành nhiều bà mẹ có con trai muốn xin các cô về làm dâu.

Song cũng vào thời điểm này (thế kỷ X), tình hình đất nước rối ren vì thù trong giặc ngoài. Hai cha con vua Đinh bị nội phản hãm hại. Ấu chúa Đinh Toàn sáu tuổi nổi ngôi làm vị. Vùng ai bắc hàng chục vạn quân Tống hình ráp đội quân vào nước ta. Quan lại hoang mang, triều chính rối bời.

Tổ quốc lâm nguy…
Thái hậu Dương Vân Nga, thể theo nguyện vọng tướng sĩ, đã khoác áo cẩm bào và trao ấn kiếm cho thập đạo tướng quân Lê Hoàn, người có đủ uy tín và tài trí lấy lại được lòng dân, bảo vệ được non sông gấm vóc. Lê Hoàn làm lễ đăng quang, hiệu là Đại Hành hoàng đế, cử ngay đoàn quân tinh nhuệ giao cho tướng Trần Công Tích thống lĩnh.

Từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình), tướng Trần Công Tích hành quân gấp ra Đại La (Hà Nội) bằng đường thuỷ qua các sông Hoàng Long, sông Nhuệ, sông Tô, sông Thiên Phù, sông Hồng, sông Cần Khe (Cà Lồ); rồi lập doanh trại ở Nghĩa Đô để tuyển thêm sĩ, lo thêm vỏ khí và quân lương.

Nghĩa Đô vừa là nơi đóng quân, luyện quân, vừa như một cứ điểm bảo vệ mặt thành Đại La. Ông tổ chức các cuộc thi để chiêu mộ người tài ra cứu nước: Hội thi nấu cơm để lấy người chuyên lo việc bếp núc cho quân đội cũng được xem trọng.

Hai chị em Hồng nương, Quế nương không bỏ lỡ cơ hội. Họ đã đoạt giải nhất trong cuộc thi này và được tuyển ngay vào quân ngũ.

Tháng Ba năm Tân Tỵ (981) đạo tiên quân vững mạnh của ta đã bí mật ngược lên chiến tuyến bắc, đến Phù Lỗ (sông Cầu).

Quả nhiên quân Tống mắc mưu, tiến sâu vào trận địa mai phục của ta, với thái độ ngạo mạn và chủ quan. Quân ta đã mở mặt trận ở Bình Lỗ.

Trong cuộc huyết chiến đó, tướng giặc Hầu Nhân Bảo đã bị chém tại trận, quân giặc tử vong quá nhiều, bọn còn lại như rắn không đầu, bỏ chạy tan tác và trốn về nước.

Quân ta toàn thắng. Đất nước thanh bình.
Tướng quân Trần Công Tích cho quân trở về doanh trại Nghĩa Đô nghỉ ngơi, làm sổ báo tiếp về triều đình và xin nhà vua ban thưởng quân sĩ, đặc biệt lưu ý công lao của Hồng nương, Quế nương.

Triều đình duyệt y sổ tấu. Sau đó ông được giao trấn giữ vùng ngoại vi thành Đại La. Cùng thời gian này ông làm lễ hiến ấn khởi nghĩa tại chính nơi ta đang…

Hương ước ghi:
“Thánh ông sinh ngày 10 tháng Mười, hóa ngày 2 tháng Tám.
Ngài được phong là “Đương cảnh thành hoàng lục tích hiển ứng kính chương, thượng đẳng phúc thần đại vương”.
Vật dâng cúng gồm xôi, thịt, rượu trắng. Tế lễ trong ba ngày.”

Hai thánh bà sinh ngày 3 tháng Ba. Hóa ngày 25 tháng Một.
Vật dâng cúng là bánh dày, chè kho và hương hoa.
Thánh bà Hồng nương được phong là “Tả hoàng hậu đoan trang tôn linh công chúa”.
Thánh bà Quế nương là “Hữu phu nhân ý thiện tôn linh công chúa”.

Đình làng Nghè đã bị phá năm 1947. Nay còn lại đền ở xóm Trong; dựng ngay trên nền nhà của ông bà Nghiêm và Minh gọi là đến Trung Nha. Đền gồm ba gian, trước sân có giếng gạch tròn xây, quanh năm nước trong xanh. Hậu cung đặt ba ngai thờ, có bát hương tả quan, hữu quan và một quả chuông cổ. Bức hoành phi khắc bốn đại tự “Bình Tống, hưng Lê” (Dẹp giặc Tống, chấn hưng nhà Lê). Câu đối đền Trung Nha cũng nói rõ ý chí người xưa:

Nghĩa khí bách niên phỉ Đẩu vọng
Đô thành thiên cổ tụ thần quang.

Tạm dịch:

“Ngửa trông nghĩa khí trăm năm như ánh sao Đẩu
Nơi đô thành ngàn đời ngưng tụ ánh sáng thần linh”.

Và:

Bình Tống, hưng Lê, công thần phụ quốc huân cao linh ứng
Đương cảnh thành hoàng ngữ lục lưu truyền sắc chỉ đại vương.

Tạm dịch:

Dẹp giặc Tống, chấn hưng nhà Lê, giữ nước công cao linh ứng
Làm đường cảnh thành hoàng, sắc chỉ đại vương vẫn còn dấu chữ lưu truyền.

Lễ hội

Hằng năm làng vào hội ngày mồng 4 tháng Giêng.
Sau khi tế lễ, đám rước được cử hành long trọng. Ba kiệu bát cống trên đặt ba long ngai. Trên mỗi long ngai đặt mũ áo của thánh. Thánh ông mũ áo vóc vàng. Hai thánh bà mũ áo vóc đỏ và xanh.

Đám rước cử hành từ đình qua miếu cửa rừng “Ông Cụ” (?) qua cổng làng vào đến xóm Trong (nơi thờ bà vị). Tại đây làm lễ dâng hương. Tiếp, rước kiệu qua văn chỉ, qua quán Nghè ở gò Phượng Đảo, đội lấy nước ở giếng Đá, long xã về Bãi cúng thi.

Có bốn giáp Nhật, Nhì, Ba, Tư đều dự thi nấu cơm. Mỗi giáp cử một nhóm ba người (một nam, hai nữ). Các dụng cụ của các nhóm chuẩn bị đều phải giống nhau, như: niêu gốm, đũa cả, rế, bùi nhùi (từ tre nạo ra), hai sợi giang, khúc tre có lỗ, ba cọc (dài 40cm/cọc) làm kiềng, ông bầu, bó đước núa, ba đầu gạo tám Mễ Trì.

Không thi lấy nước, chỉ cần ra giếng Đá gần đó chuyên về để sẵn.
Thi kéo lửa, cần hai người, khi sợi giang kéo qua lỗ khúc tre, người giữ, người kéo. Bùi nhùi để sát lỗ tre để tia lửa phát ra gặp bùi nhùi là bén ngay được.

Đến đây có cuộc thi nhỏ. Khi có lửa thì bốn người (của bốn giáp) cầm ngay bùi nhùi ấy chạy lên trước dải bạt đỏ cháy là cờ đuôi nheo nhò bằng giấy (của giáp mình) treo ở đó. Ai đốt cháy hết cờ (không cháy dở) chạy về trước là được.

Tiếp, là cuộc thi nấu cơm. Bùi nhùi tiếp lửa vào tinh tre bào trút cây tre khô. Như vậy là người đàn ông trong nhóm thì chuyên lo việc cạo tinh tre bào thành vỏ bào làm củi đốt.

Bếp cũng khác mọi nơi. Đó là ba chiếc cọc tre dài bằng nhau. Khoảng 40cm, chôn xuống đất rồi, còn khoảng 25cm trên đất, như ba ông đầu rùa, phía trên hơm chụm lại, đặt vừa tròn chiếc niêu nấu cơm thi. Đốt cháy cỏ xong, người cầm lửa chạy về bếp mình. Hai người đã đóng song cọc. Chiếc niêu đã có gạo, đặt lên bếp. Cuộc nấu bắt đầu. Người bào vỏ tre vẫn bào lấy vỏ bào làm củi đun cho tới lúc cơm chín. Một hồi trống báo, bốn bát cơm thi đem bày trước ban giám khảo. Bát cơm được giám phân thái xue, mềm, dẻy ăn. Đó là bát cơm đáng cúng. Thật vinh dự vì may mắn cho giáp nào được dâng cơm cúng thánh.

Giải thưởng là một quả dừa nặng nước (các cụ nói, đó là tượng trưng đôi nhũ của đàn bà). Dân chúng hò reo, la hét chúc mừng.

Giáp thắng cuộc cử hai người nam, nữ mặc chỉnh tề bê khay đựng quả dưa giãi đặt lên bàn thờ, thắp hương, tạ ơn thánh. Tàn tuần hương, mới nhận dừa về.

Hội tan, người ta bàn tán, chia tay nhau trong niềm vui chung và hẹn sang năm lại gặp nhau trong cuộc thi mới.

Nguồn tham khảo

Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)