Địa điểm
- Miếu Vĩnh Thanh và đình Ngọc Chi Thôn Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đông Anh
Làng Ruộng thuộc thôn Ngọc Chi và Vĩnh Thanh, xã Vĩnh Ngọc. Tuy là hai thôn nhưng ranh giới là con đường làng nên rất gần nhau.
Thời gian
- 6–16 tháng Giêng và 12 tháng Tám Chính hội: 6 tháng Giêng
Nhân vật thờ tự
- Nội Hầu và Á Nương
- Đống Công
- Vực Công
Miếu Vĩnh Thanh và đình Ngọc Chi đều thờ ba cha con tướng Nội Hầu. Nội Hầu là con ông Đào Hoằng và bà Hoàng Thị Trung từ Tuyên Quang dời về trang Hương Canh, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây. Vợ chồng ông Hoằng tuy nghèo nhưng là gia đình làm ăn lương thiện. Một hôm bà Trung nằm mơ thấy ráng đỏ đầy nhà, có con rồng vàng uốn mình bò tới gần, rồi biến thành đôi chim công. Bà tỉnh dậy, kể chuyện đó với chồng. Ông bà đều thầm nghĩ điềm lành đến với mình. Từ đó bà Hoàng có thai, đủ một trăm ngày sinh được con trai, vẻ mặt khôi ngô, tuấn tú. Ông bà đặt tên con là Hãn Công.
Ngày tháng trôi qua, Hãn khôn lớn, tìm thầy theo học. Vốn thông minh, Hãn học biết rộng, thông binh pháp lại khỏe, nổi tiếng một vùng, dân gian thường gọi là “Đô”. Năm Hãn hai mươi tuổi cha mẹ đều mất. Hãn Công thờ phụng cha mẹ ba năm, được dân làng khen là người con có hiếu. Năm Hãn Công hai lăm tuổi, vào lúc vua Thục hạ chiếu truyền trong thần dân thiên hạ chọn người tài giỏi ra giúp nước, trang Hương Canh cử Hãn Công ứng thí. Trúng tuyển, vua Thục phong cho Hãn chức Nội Hầu. Thời gian ở kinh Cổ Loa, Nội Hầu tỏ ra là một tướng tài giỏi, giúp vua Thục được nhiều việc lớn. Bởi vậy vua Thục rất tin cẩn Nội Hầu.
Một hôm Nội Hầu về trang Chiêm Trạch, gặp cô gái xinh đẹp tên là Á Nương, nàng là con ông Nguyên Khang và bà Dương Thị Chiên là người làng Ngọc Chi. Chẳng may vợ chồng ông bà Khang – Chiên mất sớm, Á Nương phải ở với người cậu ruột. Từ khi hai người quen biết nhau, Nội Hầu mê sắc đẹp, Á Nương chuộng danh tiếng. Mối tình tương hợp, hai người chọn ngày lành tháng tốt tổ chức lễ thành hôn.
Thành vợ chồng rồi, Nội Hầu lập cung riêng tại trang Chiêm Trạch. Tuy ở quê vợ nhưng Nội Hầu được dân làng yêu mến, quý trọng. Bởi ở nơi quan trường, khi về làng không hề kiêu ngạo, bổng lộc được hưởng, Nội Hầu đem chia hết cho người nghèo khó, may mắn không làm việc gì hại cho người khác. Việc làm phúc giúp người thì Nội Hầu không tiếc sức mình.
Một hôm Nội Hầu nằm mơ tại cung điện nguy nga, có vị thần nói với Nội Hầu rằng:
– Nhà ngươi có đầy phúc, trời đã biết đến. Trời cho hai giọt đồng đầu thai vào nhà ngươi làm con, sau này giúp dân, giúp nước.
Vừa nghe dứt lời, bỗng nghe ba tiếng trống đồng rót vào tai. Nội Hầu tỉnh dậy, biết mình nằm mơ…
Nội Hầu đem chuyện đó kể lại với Á Nương, họ đều mừng là điềm lành. Từ đó Á Nương có thai, và quả nhiên sinh đôi được hai con trai, đứa khôi ngô, tuấn tú. Bà đặt tên cho con mình là Đống Công và Vực Công.
Ngày tháng trôi qua, Đống, Vực khôn lớn, Nội Hầu cho hai con theo học thầy Tĩnh Hiên tiên sinh tại kinh thành Cổ Loa. Vốn thông minh lại ham học, chẳng bao lâu Đống, Vực thuộc thiên kinh vạn quyển, võ lược kiêm toàn, danh tiếng lừng lẫy. Đống và Vực là người tài giỏi, được vua Thục trọng dụng và phong cho Đống là Vĩnh Độc đại phu, phong cho Vực là Lý Vực đại phu. Cả ba cha con đồng triều. Nhà vua yêu mến đã phong thực ấp cho tam công ở trang Chiêm Trạch (Vĩnh Thanh và Ngọc Chi).
Trước họa xâm lăng của Triệu Đà, tam công đều tình nguyện xin đi đánh giặc.
Sau khi tuyển chọn được bốn mươi hai người trong mười ba dòng họ ở làng, tam công vào triều bái tạ và xin vua Thục An Dương Vương cho xuất binh đánh quân Triệu Đà.
Vua Thục trao cả hàng vạn tinh binh được trang bị cung, nỏ khỏe, mũi tên đồng sắc, dưới sự chỉ huy của tam công.
Theo sử chép, năm 209 trước Công nguyên Triệu Đà đem quân bao vây thành Cổ Loa. An Dương Vương dựa vào quân sĩ có mũi tên đồng, có thành cao, hào sâu nên đã đánh đuổi được quân Triệu Đà xâm lược.
Rồi năm 208 trước Công nguyên, Triệu Đà đem quân thủy bộ sang xâm lược nước Âu Lạc. Không đợi giặc đến kinh thành Cổ Loa, An Dương Vương phái tướng sĩ đánh địch đang trên đường hành quân. Hàng vạn tướng quân sĩ của Âu Lạc dưới sự chỉ huy của tam công tiến về phía Tiên Du nơi đóng quân của Triệu Đà. Quân sĩ Âu Lạc được trang bị cung, nỏ tốt, mũi tên đồng sắc lại tẩm thuốc độc, trúng tên giặc nào, tên ấy chết ngay khoảnh khắc. Mới vài trận giao chiến, quân Triệu Đà thua to nên phải rút quân cố thủ. Triệu Đà nhận biết ra điều là không thể dùng quân sự chiếm Loa thành được, bèn sai sứ đến kinh thành Cổ Loa xin cầu hòa, An Dương Vương chấp nhận.
Triệu Đà cho con trai là Trọng Thủy đến Cổ Loa làm rể vua Thục. Bề ngoài là thông hiếu, nhưng bề trong Trọng Thủy luôn tìm kế thực hiện ý đồ của cha. Nhiều trung thần khẳng khái can ngăn An Dương Vương không nên gả Mỵ Châu cho Trọng Thủy.
Tướng Nội Hầu, Đống, Vực cũng tâu với An Dương Vương: “Lòng người khó dò biết, không nên nhẹ dạ cả tin. Triệu Đà mượn cớ cầu hôn cốt dò xét nội tình nước ta, học cho được bí quyết chế tác cung nỏ để chờ cơ hội cướp nước ta thôi.”
An Dương Vương không nghe lời can ngăn của các trung thần. Cuối cùng tướng Nội Hầu vô cùng buồn bã, cáo bệnh để bỏ các buổi chầu. Hai con ông là Đống, Vực cũng treo ấn từ quan rồi ba cha con lui về ở trang Chiêm Trạch ẩn danh.
Từ đó triều đình Âu Lạc sa sút, tướng sĩ chán nản, vua thì bảo thủ, mất cảnh giác, các trung thần bị nhà vua đối xử bạc bẽo, không ai muốn can ngăn vua nữa.
Trọng Thủy ở rể ba năm, đã dò biết được bí quyết chế tạo cung nỏ của vua Thục và hiểu rõ nội tình nước Âu Lạc, bèn xin An Dương Vương cho về Bắc quốc thăm nhà.
Vào năm 179 trước công nguyên, Triệu Đà đem quân sang đánh Âu Lạc, An Dương Vương thất thế, mang theo Mỵ Châu bỏ kinh đô mà chạy.
Chiếm được Loa thành, Triệu Đà lên ngôi vua. Để ổn định lòng dân ở nước Âu Lạc, Triệu Đà cho sứ đến Chiêm Trạch vời tam công ra làm quan với nhà Triệu. Nội Hầu chỉ vào mặt sứ mà mắng rằng:
“Triệu Đà là sất phu, bất nghĩa, vong ân bội phản. Ta hận là chưa chém được đầu hắn để báo đền nghĩa lớn, mặt mũi nào mà ta lại làm bề tôi cho quân xâm lược.”
Sứ về tâu với Triệu Đà, y phái quân đến bao vây trang Chiêm Trạch để bắt tam công. Tam công đã quyết liệt chống lại. Cuối cùng, trước sức mạnh của kẻ thù, cả ba cha con tam công đều hy sinh anh dũng. Nội Hầu và vợ hóa ngày 4 tháng Giêng, hai con hóa ngày 6 tháng Giêng.
Nhớ công ơn của tam công, vì nghĩa lớn đối với đất nước, dân làng Ngọc Chi và Vĩnh Thanh lập đền thờ và suy tôn tam công là thành hoàng, thờ cả ở đình làng Ngọc Chi – Vĩnh Thanh. Nhiều triều đại phong kiến sau đã phong sắc và truy tặng mỹ tự.
Triều vua Lê Trang Tông gia phong mỹ tự cho tam công:
Nội Hầu là: LINH THÔNG PHỔ HÓA MINH MẪN ĐẠI VƯƠNG
Đống là: PHỔ TRỊ AN DÂN ĐẠI VƯƠNG
Vực là: BẢO ĐẠI ĐỊNH CÔNG ĐẠI VƯƠNG
Lễ hội
Hội làng Ruộng tổ chức hàng năm từ 6 tháng Giêng đến 16 tháng Giêng, được dân tứ xứ về dự rất đông. Ngày 6 tháng Giêng sau khi tế lễ có tổ chức hội đua thuyền ở hồ Vĩnh Thanh trước miếu. Thuyền bơi là cây gỗ tạc hình thoi, bốn giáp dự thi. Hai giáp có mũi thuyền đầu hạc, cờ nheo màu vàng hoa hiên; hai giáp mũi thuyền đầu rồng, cờ nheo màu đỏ tía. Nhà thủy tọa trang trí cờ hoa. Tiếng trống cái âm vang. Dòng người đứng xem đông như nêm cối, có người lội sâu ra hồ. Thuyền bơi có một lái, một phụ, một ông bay, một ông lệnh, một ông mõ, một ông phất cờ, một ông tát nước và mười hai đô bơi. Đô bơi là các cô gái chưa chồng tuổi dưới hai mươi, áo cánh màu chàm, quần đen buộc túm, thắt lưng dải yếm hoa hiên, rờ lệnh phất, đô bơi đập mái chèo vào mạn thuyền rồi bốn thuyền lướt sóng quanh vòng hồ dài ước sáu trăm mét. Tiếng cổ vũ âm vang cùng nhịp trống, tiếng dân chúng reo hò. Thi ba ngày liền. Ngày thứ ba thuyền nào nhiều điểm nhất thì được trao giải. Ngoài trò bơi còn chọi gà, tổ tôm điếm và trò rối nước hấp dẫn ở trước chùa Vĩnh Thanh.
Hội làng Ruộng (Đông Anh) là nét đẹp gợi truyền thống thượng võ từ thời nhà nước Âu Lạc, buổi bình minh của lịch sử, tới nay vẫn được nhân dân nhắc nhở mỗi năm làng vào đám, hội xuân…
Nguồn tham khảo
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001