Hội làng Thuỵ Hà (Đông Anh, Hà Nội)

Hội làng Thuỵ Hà (Đông Anh, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Thời gian

Từ 8-13 tháng Giêng

Địa điểm

  • Thôn Thụy Hà, xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh

Làng Thụy Hà xưa kia thuộc tổng Đống Đồ, huyện Kim Hoa, phủ Bắc Hà, xứ Kinh Bắc. Phía Bắc có con sông Cà Lồ uốn lượn quanh làng. Phía Tây có dải đất cao mang dáng hình tựa rồng ôm lấy làng. Đây đó còn rải rác một số gò đống mang tên cổ: Gò Trống, Gò Chiêng, Gò Con Quy, Gò Vườn Sách, Gò Nghiên Bút. Làng Thụy Hà ngày nay thuộc xã Bắc Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. Từ trung tâm thành phố, đi theo đê sông Hồng, qua cầu Thăng Long, theo đường Bắc Thăng Long, Nội Bài khoảng 3km, tới ngã tư Nam Hồng rẽ phải vào đường 23B, đến chợ Vân Trì rẽ trái theo đường liên xã, đến trụ sở UBND xã Bắc Hồng, lại rẽ trái theo đường liên thôn là vào địa phận làng. Đình Thụy Hà nằm trên gò đất cao, thoáng đãng, kề đó là chùa Tổ Long tạo nên một quần thể di tích tôn giáo tín ngưỡng đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân Thụy Hà

Nhân vật thờ tự

  • Thần Cao Sơn – Tam Giang

Truyền thuyết kể rằng thời Hùng Vương, khi nước Văn Lang còn thù trong giặc ngoài nhòm ngó, có vị Lạc tướng chuyên coi việc binh, thấy vị trí đất Thụy Hà lúc bấy giờ có nhiều thuận lợi nên ngài đã chọn làm nơi đóng binh, ngày đêm luyện tập quân sĩ. Phía nam làng Thụy Hà tại khu Đồng Rộc có một trận quyết chiến với giặc; rất đông trai làng theo ông đánh giặc. Ngay từ buổi đầu sơ khai ấy, ông cha ta đã biết dùng hỏa công đánh giặc vì nơi này trước đây là rừng rậm, ông đã cùng quân sĩ bài binh bố trận đốt xung quanh dồn giặc vào vị trí xung yếu để tiêu diệt. Thắng trận lẫy lừng, ông khao thưởng quân sĩ và các dòng họ ở làng Thụy Hà. Vị lạc tướng đó là thần Cao Sơn. Ghi nhớ công lao của ông, dân làng tôn vinh ông làm thành hoàng làng, sắc phong thượng đẳng thần. Trong đình làng, bên cạnh thần Cao Sơn, nhân dân còn thờ thánh Tam Giang, tướng của Hai Bà Trưng. Ông là người được phân công trấn giữ suốt hai bờ sông từ thượng nguồn sông Mít (Phú Thọ) đến Ngã ba Xà (Bắc Giang), dẹp giặc bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân, được sắc phong trung đẳng thần (2).

Các dòng họ trong làng Thụy Hà đời nối đời kế tiếp theo gương các bậc tiền nhân chăm chỉ làm ăn, lo việc làng, việc nước. Nhiều nho khoa đỗ đạt dưới triều Lê, triều Nguyễn… mà tiêu biểu là cụ Nguyễn Cơ Khoa đỗ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân dưới triều vua Vĩnh Thịnh thứ 8 được ghi danh tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Làng Thụy Hà có các dòng họ được lưu truyền,  mỗi dòng họ có đặc thù riêng, căn cứ vào sự học hành, đỗ đạt mà làng sắp xếp theo thứ tự: 

  1. Họ Nguyễn Duy (chi trên)
  2. Họ Nguyễn Dương
  3. Họ Nguyễn Đức
  4. Họ Nguyễn Duy (chi dưới)
  5. Họ Nguyễn Văn
  6. Họ Nguyễn Thế
  7. Họ Nguyễn Thịnh (hương lão từ thôn Mỹ Đức, bà vợ chúa Trịnh Kiểm)

Còn dòng họ thứ 8 là họ Nguyễn Tiên mới đến sau.

Lễ hội

Lễ hội làng Thụy Hà được tổ chức trong 5 ngày, là do đức Cao Sơn dẹp giặc và thắng trận tại cánh đồng Rộc (phía nam của làng) vào ngày mồng 8 tháng giêng rồi đóng doanh trại lưu tại nơi đây 5 ngày, mở hội mừng công thắng trận, để bình ổn dân binh. Đến ngày 13 tháng giêng, ông cùng nghĩa quân rời Thụy Hà để tiếp tục lên đường.

Không khí chuẩn bị hội náo nức từ những ngày trước đó, các dòng tộc chọn người, tập nghi thức rước lễ… Tất cả nhộn nhịp trong tiếng trống, chiêng tạo nên âm thanh rộn rã, làm nức lòng dân làng.

Ban tổ chức của lễ hội được được thành lập theo quy định của làng, dưới sự lãnh đạo của các cấp chính quyền địa phương. Làng thành lập một ban giám khảo chấm thi (có thưởng) cho các dòng tộc làm tốt các nghi lễ.

Năm nào cũng vậy, dân làng tổ chức nghi lễ rước đám rậm vào sáng sớm ngày mồng 8 tháng giêng, diễn lại tích thần Cao Sơn thắng trận tại khu đồng Rộc phía nam làng. Các dòng tộc cử người tham gia đám rước theo sự phân công của làng. Đám rước đi theo thứ tự: đi đầu là cờ thần các loại, tiếp đến là đồ tế khí, đội nhạc lễ, bốn người ở bốn giáp vác gươm trường, tiếp theo là kiệu bành rước Cô, kiệu bát cống rước bài vị của thần Cao Sơn. Đám rước đi đến nơi, hạ kiệu. Đoàn quan viên làm lễ tế thần, sau đó 4 người diễn lại tích thần Cao Sơn đánh giặc và ăn mừng thắng trận, trong tiếng trống, chiêng và reo hò của quân sĩ. Tiết mục múa gươm xong, đoàn quan viên làm lễ tạ thần, rồi kiệu được rước về đình. Các quan viên sau khi làm lễ thành hoàng mới tỏa về các nhà thờ họ lễ tổ và tham gia hành lễ cùng dòng tộc.

8 giờ 30, kiệu được tiến hành xuất phát từ các nhà thờ họ ra tập trung ở cổng làng theo thứ tự định sẵn. Ban tổ chức hội chọn cử một người cầm cờ chỉ huy, nhất nhất phải tuân theo mệnh lệnh, nếu họ nào sai sẽ bị giáng cấp (trừ điểm thi).

Đúng 9 giờ, cuộc hành hội bắt đầu, theo thứ tự: đám ông nghè (họ Nguyễn Duy chi trên) đi đầu, tiếp đến là ông cống (họ Nguyễn Dương), quan tấn nhất (họ Nguyễn Đức), họ Nguyễn Duy chi dưới, họ Nguyến Thế, họ Nguyễn Thịnh và sau cùng là họ Nguyễn Tiến. Nhạc khí dùng trong đám rước cũng được quy định cụ thể như: tiến sĩ dùng khánh, hương cống dùng đạc, quan võ dưới hương cống dùng chuông, các dòng họ cùng tổ tiên dùng trống. Quần, áo, tán, lọng, cờ, quạt, kiệu rước mỗi họ một vẻ khác nhau tạo nên bức tranh đủ màu sắc. Riêng họ Nguyễn Thịnh có trang phục màu xanh khác hẳn, vì dòng họ này có người được chọn làm thiếp của chúa Trịnh Kiểm.

Đám rước đi trong tiếng nhạc hội vừa như giục giã, lại như vừa khoan thai. Một không khí tưng bừng náo nhiệt, đầm ấm tình người, gợi nhớ cội nguồn, ghi nhớ công ơn tổ tiên đã sinh thành ra lớp con cháu hôm nay. Đám rước ra đến đình làng, kiệu được lần lượt hạ xuống. Thứ tự từng dòng họ rước nồi hương vào trong đình. Nhất Bắc đình (bên phía bắc của đình làng) có: họ Nguyễn Dương, họ Nguyễn Duy chi trên, họ Nguyễn Đức; nhị Nam đình (bên phía nam của đình làng) có: họ Nguyễn Duy chi dưới, họ Nguyễn Văn, họ Nguyễn Thế, họ Nguyễn Thịnh, họ Nguyễn Tiến. Sau khi đã yên vị, ban tổ chức khai mạc hội làng truyền thống thôn Thụy Hà. Đoàn quan viên của làng (mỗi họ cử hai cụ tham gia) làm lễ tế thần. Tế trong 5 ngày mỗi ngày một lần vào buổi sáng. Trong những ngày này, dân làng tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật và thể dục thể thao truyền thống như: hát tuồng, hát quan họ, chơi đu, chơi cờ tướng, chọi gà, nam nữ hát giao duyên.

 Đến ngày 13 tháng giêng, theo truyền thuyết là ngày thần Cao Sơn cùng nghĩa quân Thụy Hà đi nơi khác cũng là ngày giã hội. Khoảng 13 giờ, đoàn tế của làng tế giã đám, hóa mã xin được rước nồi hương của các dòng họ về nhà thờ. Đúng 18 giờ 30, chiêng trống nổi lên, kiệu lần lượt lên vai đi một vòng quanh sân đình để từ thần trở về các nhà thờ họ. Đi được hai phần đường đến đầu Cầu Cháy thì ban lệnh nổi đuốc. Hàng trăm ngọn lửa thắp sáng cả đoạn đường như đêm hội hoa đăng. Tiếng trống, tiếng chiêng, sáo nhị như được ngân vang hơn bởi ánh đuốc bập bùng, đoàn người chảy hội như được tiếp thêm sức mạnh, ai nấy đều phấn khởi hân hoan như nhớ lại thế trận thuở nào ông cha ta đánh giặc, thắp sáng trong tim mỗi người niềm tự hào về mảnh đất quê hương, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Đám ruớc đến đầu làng tách dần tỏa về các nhà thờ họ. Nồi hương lại được thận trọng rước vào nhà thờ làm lễ an vị.

Lễ hội làng kết thúc nhưng âm hưởng vẫn như còn mãi với thời gian. Theo quan niệm của dân làng, dòng họ nào được giải cao thì năm đó dòng họ ấy sẽ được thịnh vượng. Và những người con xa quê khi trở về cũng sẽ không thể nào quên một lễ hội làng mang đậm nét dân gian như vậy. Cuộc sống dân làng tuy còn nhiều khó khăn, vất vả song họ đã vượt lên tất cả gìn giữ vốn cổ truyền tốt đẹp của cha ông để tưởng nhớ, để giáo dục cho thế hệ trẻ hôm nay

Nguồn trích dẫn

Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001

Chấm điểm

Địa điểm tổ chức

Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)