Thời gian
9-11 tháng Giêng
Địa điểm
- Đình Phú Gia, quận Tây Hồ
Cái tên “Bà Già hương” vẫn còn lại với khách khi đến vùng đất này. Kẻ Gạ, cái tên đó có từ thời Hùng Vương của vùng quê nằm bên tả ngạn sông Hồng, nơi giao lưu của nền văn hóa Thăng Long và nền văn hóa Kinh Bắc. Bến đò Xù đầu làng Gạ được ghi trong sách Đại Nam nhất thống chí. Kẻ Gạ sau đổi là Bà Già hương. Đầu thế kỷ thứ VII (nhà Đường), Thứ sử Lư Anh đến ngủ ở làng, buổi trưa ông nằm mơ được gặp vị thành hoàng, tự xưng là người cai quản làng này. Tỉnh dậy, ông cho lập đình thờ và đổi tên làng là An Dưỡng phường, giáp hai huyện Long Đỗ và Từ Liêm.
Đến thế kỷ XIII, khi nhà Nguyên xâm lược, dân làng đi đắp thành Đại La, bến Đông Bộ Đầu được vua Trần đổi thành Phú Gia xã. Năm 1942 làng này thuộc tổng Phú Gia, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Năm 1955 thuộc xã Phú Thượng, quận 5 ngoại thành Hà Nội. Từ năm 1961 thuộc huyện Từ Liêm, nay thuộc quận Tây Hồ.
Mảnh đất của nền văn minh lúa nước sông Hồng đã in đậm dấu ấn qua tục ngữ, ca dao, thần thoại và các nghề cổ truyền. “Ráo mồ hôi là hết tiền”, cả làng đi cưa đi bồ để kiếm miếng cơm manh áo. “Đinh Phú Gia, điền Phú Mỹ” – ruộng đất ít nên trai làng phải vào Phú Mỹ để cày thuê cuốc mướn.
Nghề ươm tơ dệt lụa được nhắc tới:
Xù, Gạ thì giỏi chăn tằm
Làng La canh cửi, làng Đăm bơi thuyền.
Đình làng còn truyền tụng sự tích một vị thánh theo Phù Đổng đánh giặc Ân. Ngài bị chém ở cổ, khi về đến gốc gạo, dân chúng nhìn thấy máu loang đỏ bờ vai. Ông phi ngựa đến giữa làng rồi ngã xuống. Ngày kỵ thánh làng là mồng 10 tháng Giêng, dân làng gọi chữ “chết” thành chữ “chít”. Vị thánh có tên là Quán Đình Nhự. Bài vị ở đình ghi: “Khai nguyên địch giáo long trứ, uy hiển trung vũ hùng nghị Trang Mục đại vương” (Hoàng Tuấn dịch 2-1997). Bài vị này giúp xác định vị thành hoàng mà trong sách Việt điện u linh ghi nhận nhưng chưa xác định rõ ở làng nào.
Chùa Bà Già dựng từ đời Trần (1258), trước đây ở Quán La, đến đời Lê được di chuyển về đây, quả chuông ghi rõ Lê Chính Hòa (năm 1680–1705). Tấm bia đá khắc năm 1683 do Nguyễn Phác Phu – một thầy giáo từng dạy học ở Văn Miếu Quốc Tử Giám soạn ra. Văn chỉ xây năm Minh Mệnh 1835. Bản hương ước cũ ghi rõ 10 điều răn, hàng năm đọc để dân làng trừ bỏ hủ tục, xây nếp sống thuần phong mỹ tục.
Làng nổi tiếng với nghề thổi xôi, nấu chè, nấu rượu nếp, trồng hoa đào, hoa cúc. Gạo nếp chọn từ bến Bỏi, Vân Trì, men rượu mua từ Bồng Lai, Bá Giang. Hạt gạo là thứ nếp cái, nếp hoa vàng. Bà con bấm thời vụ để gánh xôi đi bán rong trong các phố. Tháng Giêng, Hai: xôi đỗ xanh, xôi lạc; tháng Ba, tháng Chín: xôi đỗ đen; tháng Một, Chạp: xôi gấc. Xôi gấc Phú Gia để ba ngày vẫn dẻo thơm. Bà con hàng phố đón chờ mua để cúng giao thừa.
Nhân vật thờ tự
- Trang Mục đại vương một vị tướng phù thánh Gióng
- Bà chúa tằm Quỳnh Hoa
Tương truyền, Hội thổi cơm thi Thị Cấm (xã Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) tưởng nhớ đến công lao của Thành hoàng Phan Tây Nhạc, đời Hùng Vương thứ 18, cùng 3 vị công chúa đã có công dẹp giặc, chăm lo cuộc sống của dân.
Tương truyền, tướng quân Phan Tây Nhạc được giao thống lĩnh quân binh đi đánh giặc, khi qua làng Hương Canh (làng Thị Cấm), ông tổ chức thi tuyển chọn người giỏi việc hậu cần để phục vụ quân binh. Chiến thắng trở về, tướng quân ở lại vùng đất này, dạy dân cấy lúa, dệt vải. Sau khi qua đời, ông được nhân dân tôn thờ là Thành hoàng làng, chọn ngày 8 tháng Giêng mở hội thổi cơm thi.
Lễ hội
Có câu ca về hội làng:
Mồng bảy rước hội Quán La
Mồng mười hội Gạ kéo qua làng Xù.
Ngày hội đầu xuân phấp phới cờ ngũ sắc, già trẻ ăn mặc quần áo đẹp. Nhiều trò vui như: múa lân, múa sư tử, đấu võ, đấu vật, hát ả đào (hát nhả tơ), hát chèo. Đám rước có tàn, tán, phướn, cờ lọng, hai kiệu bát cống đi theo nhịp chiêng trống từ đình làng tới miếu Thượng ở Bãi Non, vòng qua đê tới miếu Vọng Giang ở Bãi Mật, lấy nước giữa sông Hồng để về làm lễ bày bàn mộc dục.
Cỗ làng do 18 giáp đóng góp, mỗi giáp thịt hai lợn. Lợn luộc cả con, cắt làm sáu, quả thủ (đầu lợn) phủ vải điều. Bò thui cả con. Xôi oản trắng. Hai làng kết chạ là Hải Bối và Quán La sang dự (ăn giải).
Các cụ kể về bà Chúa Tằm: Quỳnh Hoa là con Ngọc Hoàng đầu thai xuống nhà họ Trần, được gả cho Liễu Nghị – tiến sĩ Hà Trung. Lúc quân Chiêm đánh Thăng Long, Trần Vĩ (cha Quỳnh Hoa) được sắc chỉ cầm quân chặn đường quân giặc. Quỳnh Hoa búi tóc giả trai chỉ huy quân đánh giặc. Khi về, triều đình phong Trần Vĩ làm Đô đài Ngự sử, sau là phủ doãn phủ Phụng Thiên. Được ít lâu sau Liễu Nghị mất, Quỳnh Hoa xin về Nghi Tàm – nơi chồng dạy học, giúp dân thôn phát triển nghề tằm tang. Bà mất, được tôn làm nữ thần, có sắc phong của nhà vua: “Thượng đẳng phúc thần dực quốc”, “Đổng hưu Quỳnh Hoa phu nhân”. Có tới 60 đền thờ bà Chúa Tằm ở vùng ven sông Hồng.
Nguồn trích dẫn
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001


