Đình Phú Gia (Đình Khai Nguyên – Tây Hồ, Hà Nội)

Đình Phú Gia (Đình Khai Nguyên – Tây Hồ, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Phú Gia, còn được gọi với các tên khác như đình Khai Nguyên hoặc quán Già La, là một công trình tín ngưỡng dân gian quan trọng của cư dân vùng Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nội. Di tích tọa lạc cách trung tâm thủ đô khoảng 13km về phía Tây Bắc, nằm trong khuôn viên làng Phú Gia – một ngôi làng cổ mang đậm dấu ấn văn hóa lịch sử truyền thống. Đình tọa lạc ở vị trí trung tâm làng, trên khu đất cao ráo, thoáng đãng, có địa thế phong thủy hài hòa. Trước mặt đình là hệ thống cây cổ thụ tạo nên không gian trang nghiêm, trong lành, cùng với ao đình hình tròn rộng khoảng 300m² thường được thả sen, góp phần làm tăng vẻ thanh tịnh và linh thiêng cho không gian thờ tự.

Lịch sử và nhân vật

Làng Phú Gia từ lâu đã thờ phụng thần Khai Nguyên, một vị tướng dưới triều Hùng Vương thứ sáu. Theo sử sách địa phương, ngài từng có công lớn trong cuộc chiến chống giặc Ân, bảo vệ bờ cõi, mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân. Dân gian còn lưu truyền rằng ông là người “trị nạn hồng thủy”, giúp dân vượt qua thiên tai, được vua ban sắc phong với 12 chữ: “Cứu nước, cứu dân, âm phù, dương trợ, dân tình yên ổn”, tôn làm Thành hoàng làng.

Thần tích còn chép lại câu chuyện cảm động về cái chết của thần: “Tương truyền vị tướng đời thứ 6 của Vua Hùng, có tên húy là Như hay còn gọi là “Thần Bà Già” tục gọi là thần Khai Nguyên trên đường đi đánh giặc Ân bị giặc chém vào cổ ngả đầu về một bên vẫn phi ngựa về làng. Đến đoạn vườn Hồng, nơi có cây đa to cạnh quán nước, ngài bèn hỏi bà hàng nước: “Cổ tôi thế nay liệu còn sống được không?”. Bà hàng nước xem và trả lời: “Ngài có là người nhà trời mới sống được!”. Sau đó ngài phi ngựa đi được một quãng về đến đầu làng Phú Gia thì chết, sau khi chết dân làng Phú Gia lập đền thờ để ghi nhớ công lao. Câu chuyện đó còn truyền tụng ở địa phương cho đến ngày nay, đặc biệt có chi tiết người làng Phú Gia nói kiêng từ chết thành là “chít” cũng từ đó.

Sách “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên còn chép rằng thời Đường, khoảng năm 725, thứ sử Quảng Châu là Lư Hoán sang cai trị Giao Châu. Khi đến vùng này, ông thấy “chỗ đất này bằng phẳng rộng rãi, cây cối tốt tươi, có sông Già La tổ sơn dẫn mạch, địa thế tuyệt đẹp”. Một đêm ông mộng thấy “một cụ già tóc bạc phơ đến bảo rằng: ‘Quán này nên đặt là Khai Nguyên, thôn này cũng đặt là thôn Khai Nguyên, dựng bia để biểu dương công đức của thần’”. Từ đó, vùng này được gọi là Khai Nguyên, và tên “quán Già La” ra đời, ghi nhận sự linh thiêng của vùng đất.

Ngoài ra, thần phả “Bản xã thần ký” cũng khẳng định thần là vị thổ thần hiển linh giúp dân chống lũ: “Lúc bấy giờ đê bị nước dâng lên ngập lụt, đời sống nhân dân cơ cực, khi ấy Thổ thần linh ứng báo mộng rằng: ‘Ta sẽ âm phù cứu người, cứu dân, cứu nước’…”. Sau khi cầu đảo, đúng như lời báo mộng, “vào giờ Thìn có một cây gỗ lớn trôi đến ngăn dòng nước lũ”, từ đó “vua cho nhân dân xây dựng miếu để thờ phụng trên thế đất ‘hình nhân bái tướng’…”. Cũng từ đó, tên làng đổi thành Phú Gia, mang ý nghĩa là ngôi làng trù phú, thịnh vượng.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Phú Gia được xây dựng trên khu đất rộng gần 2.000m², có tường bao quanh, cảnh quan hài hòa, cổ kính. Hệ thống cây cổ thụ bao quanh sân đình góp phần tạo nên không gian linh thiêng, yên tĩnh. Ao đình ở phía ngoài cùng, hình tròn, tạo sự cân đối về mặt phong thủy. Nghi môn đình là một nếp nhà ngang ba gian bằng gỗ, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu đình truyền thống với phần đầu cong hình mũi thuyền, mang đậm phong cách kiến trúc dân gian Bắc Bộ.

Sân đình được phân cấp, hai bên trồng cây cổ thụ gần nhà tả – hữu mạc. Đại đình gồm 5 gian, là công trình chính được tu bổ gần đây. Kết cấu kiến trúc sử dụng kiểu “chồng rường, tiền kê, hậu bẩy”, mái ngói ta, đầu đao cong hình đầu rồng. Hình thức kiến trúc thể hiện sự tinh tế, tôn nghiêm. Phía trước là hệ cửa bức bàn bằng gỗ, phần bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời – biểu tượng của sự thiêng liêng và quyền uy.

Hậu cung gồm 3 gian, kết cấu đơn giản, mái ngói, nền lát gạch, bộ khung kiểu “vì kèo quá giang”, bào trơn bóng. Gian trung tâm đặt long ngai, bài vị ngai thờ và tượng thờ của Thành hoàng làng, thể hiện sự tôn kính đối với vị thần được thờ phụng qua nhiều thế kỷ.

Hiện vật

Đình Phú Gia không chỉ là nơi hành lễ mà còn là kho tàng hiện vật quý giá. Trong đình hiện còn lưu giữ hai cuốn thần phả bằng chữ Hán ghi công tích của thần Khai Nguyên – đây là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu tín ngưỡng thờ Thành hoàng. Ngoài ra, đình còn có 12 đạo sắc phong, gồm 8 đạo thời Lê, 1 đạo thời Tây Sơn và 3 đạo thời Nguyễn. Gần đây, người dân địa phương đã bổ sung thêm 4 đạo sắc mới, cho thấy quá trình bảo tồn đang tiếp tục được quan tâm.

Bên cạnh đó, đình còn lưu giữ một đôi hạc, một đôi lân, một đôi kim kê được chế tác tinh xảo cùng nhiều hiện vật thờ tự từ thế kỷ XVII. Đặc biệt, tấm bài vị thời Mạc là một di vật cực kỳ quý hiếm, không chỉ đối với đình Phú Gia mà còn đối với kho tàng di sản văn hóa Thủ đô Hà Nội.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội chính của đình được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 10 tháng Giêng âm lịch, là dịp để người dân làng Phú Gia tưởng nhớ công đức của Thành hoàng. Trong lễ hội, các nghi lễ được tiến hành trang trọng, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống địa phương. Người dân dâng lễ, cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn thần đã phù hộ dân làng được sống thanh bình, no ấm. Lễ hội không chỉ là dịp sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là không gian gặp gỡ cộng đồng, giáo dục truyền thống yêu nước, hướng về cội nguồn.

Xếp hạng

Với giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc, Đình Phú Gia đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 2010. 

Tham khảo

  1. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
chùa Vạn phúc

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)