Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Phúc Lâm Tự là một ngôi chùa cổ kính tọa lạc tại xã Vũ Lễ, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nhờ nằm sát mặt đường liên huyện, thuộc địa phận thôn Trình Hoàng, chùa còn được người dân quen gọi bằng tên gần gũi là chùa Trình Hoàng. Không chỉ là điểm tựa tâm linh của cộng đồng, chùa còn là trung tâm sinh hoạt Phật giáo của địa phương trong nhiều thập kỷ.
Theo lời kể của người dân làng Trình Hoàng, xưa kia ngôi chùa có tên gọi là chùa Vàng, do sắc màu mái ngói và ánh hào quang tỏa chiếu giữa vùng quê trù phú. Tên chùa đã trở thành dấu ấn văn hóa, in đậm vào đời sống cư dân địa phương: làng Trình Hoàng xưa cũng được dân gian gọi là làng Vàng, và bến sông cạnh làng cũng mang tên bến Vàng. Ngày nay, bến Vàng vẫn còn lưu dấu thiêng, là nơi nhân dân lập miếu thờ Ba Cô và Đức Thánh Trần (tức Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn), biểu tượng cho niềm tin tâm linh và truyền thống hướng về nguồn cội.
Lịch sử và nhân vật
Hiện nay, chùa Phúc Lâm do Ni sư Thích Đàm Minh, năm nay 75 tuổi, trụ trì. Ni sư đã gắn bó và chăm lo ngôi chùa suốt từ năm 1971 đến nay, tính đến năm 2023 là tròn 52 năm.
Theo lời truyền lại của sư cụ trụ trì và căn cứ vào các tư liệu cổ còn lưu giữ, chùa Phúc Lâm (Trình Hoàng) được khởi dựng vào cuối thời Lý, đầu thời Trần, tức khoảng đầu thế kỷ XIII. Đây là giai đoạn hưng thịnh của nền văn minh Đại Việt, khi Phật giáo được tôn làm Quốc giáo, phát triển cực thịnh cả về giáo lý, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của dân tộc. Việc xây dựng chùa vào thời điểm này cho thấy dấu ấn Phật giáo đã sớm lan tỏa đến vùng đất Kiến Xương – Thái Bình, nơi vốn là vùng đồng bằng phì nhiêu, đông dân, giàu truyền thống văn hóa.
Sư cụ cho biết, chùa Phúc Lâm được dựng cùng thời với các ngôi chùa danh tiếng như chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư), một công trình tiêu biểu của Phật giáo thời Lý – Trần tại Thái Bình. Lúc mới khởi lập, chùa có diện tích khoảng 1,5 mẫu Bắc Bộ, tương đương gần 5.400 m², với các công trình chính là Tam Bảo và nhà Tổ. Qua thời gian và biến thiên lịch sử, diện tích chùa hiện nay còn lại khoảng 1,05 mẫu (3.780 m²), nhưng vẫn giữ được bố cục hài hòa và không gian trang nghiêm, thanh tịnh.
Việc chùa được dựng lên từ thời Lý – Trần không chỉ thể hiện sự phát triển sớm của Phật giáo tại vùng đồng bằng Bắc Bộ, mà còn cho thấy sự tiếp nối liên tục của truyền thống tín ngưỡng, trải qua nhiều thế kỷ vẫn được duy trì và bảo tồn bởi các thế hệ trụ trì và Phật tử địa phương. Ni sư Thích Đàm Minh, người trụ trì chùa từ năm 1971 đến nay, là người đã dày công bảo tồn, trùng tu và khơi dậy giá trị lịch sử – tâm linh quý báu của di tích qua hơn nửa thế kỷ.
Ngoài vai trò là một cơ sở tôn giáo, chùa Phúc Lâm Tự còn là chứng nhân và địa điểm diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng gắn liền với các giai đoạn kháng chiến của dân tộc. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Minh đã thành lập Đoàn thanh niên tại chùa và tập hợp nhân dân để chuẩn bị lực lượng giành chính quyền. Ni sư Vũ Thị Viên, trụ trì chùa thời điểm đó, đã tích cực tạo điều kiện cho cán bộ Việt Minh hoạt động bí mật tại chùa. Ngày 20 tháng 8 năm 1945, lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên được tung bay tại đây, và nhân dân đã bầu ra Ủy ban Nhân dân lâm thời – chính quyền cách mạng đầu tiên của thôn Trình Hoàng. Tiếp đó, vào ngày 6 tháng 1 năm 1946, chùa được sử dụng làm địa điểm tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ năm 1946 đến 1949, chùa trở thành nơi mở các khóa đào tạo cán bộ Việt Minh và hội viên các đoàn thể mặt trận, huấn luyện dân quân du kích, tổ chức hội nghị rèn cán chỉnh quân và mở trường đào tạo cán bộ. Giai đoạn 1950–1952, chùa được các đơn vị bộ đội chọn làm nơi đóng quân, đào hầm hào trú ẩn, tích trữ vũ khí, làm trạm giao liên và tổ chức hội nghị tòng quân. Đặc biệt, năm 1952, chùa từng được sử dụng làm nơi tạm giữ 100 tù binh Pháp. Đến năm 1954, trong trận tấn công đồn Niềm Hạ, chùa trở thành trạm cứu thương cứu chữa và điều trị cho thương binh. Trong kháng chiến chống Mỹ, hai cơ quan là Ty Công an Thái Bình và Chi cục Cơ khí tỉnh Thái Bình đã sơ tán và làm việc tại chùa, mỗi đơn vị lưu trú tại đây trong bốn năm. Những dấu ấn ấy đã làm nổi bật vai trò của chùa Phúc Lâm không chỉ trong đời sống tôn giáo mà còn trong sự nghiệp kháng chiến và bảo vệ Tổ quốc.
Kiến trúc và cảnh quan
Chùa Phúc Lâm được xây dựng trên thế đất đẹp, cao ráo, vuông vức, nằm ở vị trí đầu rồng, mặt chùa quay về hướng tây nam. Kiến trúc chùa mang phong cách thời Lý với bố cục “nội công ngoại quốc”, kết cấu hình chữ “Công” theo kiểu “tiền Phật, hậu Tổ”, gồm tám mái. Trước mặt chùa là con đường liên huyện – tỉnh, ba hướng còn lại tiếp giáp khu dân cư.
Các hạng mục chính của chùa gồm: cổng chùa, lầu Quan Âm, Tam Bảo, nhà Mẫu, nhà Thánh, nhà Tổ, khu tăng xá, khu mộ tháp, sân chùa và vườn chùa. Ngay phía ngoài cổng là hai cây bồ đề tỏa bóng mát mỗi độ hè về. Cổng chùa cao ráo, uy nghi, chạm trổ hình rồng phượng tinh xảo. Trong chùa có hai giếng cổ – hai “mắt rồng”: một giếng sát cổng, bên cạnh là cây đại và cây si cổ thụ lớn, cành lá sum suê, rễ cây đan bện vào nhau tạo vẻ đẹp cổ kính. Một cành đại và một cành si nghiêng gối đầu trên miệng giếng. Mắt rồng thứ hai là chiếc giếng nằm gần khu mộ tháp phía sau chùa. Dù trời hạn hán, cả hai giếng chưa bao giờ cạn nước.
Từ cổng vào, bên phải là giếng chùa, bên trái là lầu Quan Âm tọa trên bệ cao, nơi thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát với gương mặt hiền từ, thánh thiện. Chếch sang bên trái tượng Quan Âm có một chiếc khánh đá cổ lớn. Tiếp đến là sân chùa dài 14,5m, rộng 6m, dẫn vào tòa Tam Bảo – Đại Hùng Bảo Điện – trung tâm của ngôi chùa, nơi diễn ra các nghi lễ Phật giáo và là không gian lễ bái của Tăng Ni, Phật tử.
Tam Bảo vốn được làm hoàn toàn bằng gỗ như chùa Keo, về sau một số hạng mục xuống cấp đã được tu bổ bằng bê tông, song khu thờ chính vẫn giữ nguyên kết cấu gỗ truyền thống. Tam Bảo gồm ba tòa, mỗi tòa tám mái (bốn mái tầng trên, bốn mái tầng dưới), sáu cột cái đỡ tầng mái trên, hệ cột quân kết hợp cùng kèo, xà bẩy tạo thành bốn mái tầng dưới. Kèo làm theo lối kẻ cốn, các bức kẻ chạm trổ vảy rồng tinh xảo, xà bẩy ngoài cửa đều được trang trí hoa văn. Cửa võng trước gian thờ Phật chạm khắc công phu, chính giữa khắc ba chữ Hán lớn: “Phúc Lâm tự”.
Tam Bảo có Hộ Pháp, Long Thiên, ba cung thờ, gác chuông và Hậu cung. Trong Tam Bảo còn đặt tấm bia đá dựng vào năm Giáp Thân – Minh Mạng thứ năm – ghi tên những người đứng ra tu sửa chùa, kèm một bài thơ chữ Hán. Cụ Trần Ngọc Thoại, một nhà giáo quê làng Trình Hoàng, đã dịch thơ như sau:
Chùa ta phúc trạch tựa rừng,
Dưới trời cõi Phật tưng bừng thiên nhiên.
Một vùng cảnh sắc sơ nguyên
Sáng soi nét cũ màu thiền chưa phai…
Chếch phía sau bia đá là gác chuông. Gác chuông được đặt trên cao, phải dùng thang leo lên để thỉnh chuông. Tại đây vẫn còn lưu giữ quả chuông đồng cổ đúc thời Gia Long năm thứ hai (đầu thế kỷ XIX), nặng 70 kg. Khi thỉnh, chuông ngân vang xa đến 3 km.
Trong Chính điện, cung thứ nhất thờ Phật Thích Ca Mâu Ni cùng các vị như Ca Diếp, A Nan, Địa Tạng, Dược Sư… hai bên có tượng Thanh Long, Bạch Hổ. Cung thứ hai thông sang khu nhà Mẫu và tăng xá, cũng thờ Phật. Bên tả cung thờ Đức Thánh Hiền, bên hữu là Đức Chúa Ông. Cuối tòa Tam Bảo là Hậu cung, góc phải thờ Thánh Mẫu Bạch Hoa Phu Nhân – người đã được vua Khải Định ban sắc phong (đạo sắc hiện còn lưu giữ).
Ngay sau Tam Bảo, bên trái là nhà Mẫu nối với tăng xá và gian bếp; bên phải là nhà Thánh – cũng là nhà khách. Hai tòa nhà này được xây theo kiểu nhà ống muống chạy dọc, ở giữa là khoảng sân sau. Nhà Thánh thờ Đức Thánh Trần – vị anh hùng dân tộc ba lần đánh thắng quân Mông – Nguyên (thế kỷ XIII). Đây cũng là nơi lưu giữ hình ảnh chùa, các kỷ vật của sư cụ trụ trì khi được tấn phong ni sư.
Từ sân sau nhìn vào, bên trái là nơi nghỉ của ni sư trụ trì, chính giữa là nhà Tổ – trước kia là năm gian nhà đất – thờ Phật Tổ Như Lai và Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Hai bên cột gian chính có đôi câu đối:
“Nhất tâm hiếu đạo càn khôn tại / Vạn cổ cương thường nhật nguyệt minh”
(Tạm dịch: Một lòng hiếu đạo ở trong Trời Đất / Ngàn xưa giữ vững cương thường có nhật nguyệt soi).
Trong nhà Tổ có gian riêng trang trọng đặt tấm bằng công nhận di tích lịch sử – văn hóa.Khu tăng xá gồm bảy phòng đơn sơ, là nơi sinh hoạt và hành thiền của ni sư trụ trì và các ni cô. Bên phải nhà Tổ là khu mộ tháp – nằm gần giếng rồng thứ hai – gồm một đài tháp, tượng Quan Âm nhỏ và ba ngôi tháp cổ – nơi an nghỉ của các vị Tăng đã viên tịch. Sau tháp là năm cây chò chỉ đại thụ rất lớn, đứng thành hình chữ “Nhất”, tạo bóng mát rợp trời. Theo sư cụ, giống cây này chỉ còn ở chùa Hương Tích, rừng Cúc Phương và chùa Trình Hoàng. Người dân Trình Hoàng gọi đó là “năm cụ chò”. Vào những buổi chiều hè, bà con hay ngồi nghỉ dưới gốc chò, tận hưởng không khí mát lành. Nhiều khách vãn cảnh nói rằng, đến Phúc Lâm Tự như được thấy cả rừng Cúc Phương thu nhỏ hiện hữu tại đây.
Từ năm 1971, Ni sư Thích Đàm Minh về tiếp quản trụ trì chùa Phúc Lâm. Trải qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, chùa từng bị bom đạn tàn phá nặng nề. Diện mạo chùa hiện nay là kết quả của quá trình phục dựng, tu bổ qua nhiều giai đoạn, tiêu biểu là các đợt đại trùng tu Tam Bảo vào năm 1985 (Ất Sửu) và năm 2010 (Canh Dần), xây mới nhà Thánh năm 2011 (Tân Mão), cùng nhiều công trình khác được tôn tạo gần đây. Công sức ấy là thành quả của lòng thành Tăng Ni Phật tử, sự giúp đỡ của chính quyền và tín thí thập phương.
Cảnh quan chùa được chăm sóc chu đáo, các lối đi lát gạch đỏ sạch sẽ, khuôn viên rợp bóng cây xanh như đại, si, bồ đề, mai, ngâu và nhiều loại cây ăn quả như mít, bưởi, nhãn… tạo nên không gian trong lành, yên tĩnh, trang nghiêm. Tuy nằm sát mặt đường và khu dân cư, nhưng chùa vẫn giữ được vẻ thanh tịnh cổ kính. Với lối kiến trúc truyền thống kết hợp cảnh quan xanh mát, chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của dân làng cũng như điểm dừng chân của du khách thập phương. Vào các ngày rằm, mùng một, lễ tết, Phật tử về chùa lễ bái rất đông.
Hiện vật
Hiện nay, chùa vẫn lưu giữ được nhiều hiện vật quý, phản ánh sâu sắc đời sống tín ngưỡng, mỹ thuật Phật giáo và dấu ấn của cộng đồng làng xã qua các thời kỳ.
- Khánh đá: Chùa hiện còn giữ được một chiếc khánh đá cổ khá lớn, đặt ở vị trí chếch sang góc trái tượng Quan Thế Âm. Đây là một loại pháp khí quan trọng dùng trong nghi lễ Phật giáo, có hình dáng thanh thoát, âm vang trầm ấm, và là hiện vật quý hiếm còn tồn tại nguyên vẹn.
- Bia đá: Một tấm bia đá được dựng vào năm Giáp Thân, đời vua Minh Mạng thứ năm (1824), hiện đặt trong khuôn viên Tam Bảo. Bia ghi rõ danh sách những người được dân làng cử ra đứng tên tu sửa chùa, đồng thời có khắc một bài thơ chữ Hán ca ngợi chùa, được lưu truyền như tư liệu quý về ngôn ngữ, thi pháp và tín ngưỡng thời Nguyễn.
- Chuông đồng cổ: Chùa còn lưu giữ một quả chuông đồng cổ nặng khoảng 70kg, được đúc từ đời vua Gia Long năm thứ hai (1803). Chuông có âm thanh vang xa, khi thỉnh lên có thể nghe rõ trong bán kính 3km, thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân xưa và vai trò trung tâm tinh thần của ngôi chùa đối với cộng đồng.
- Sắc phong: Hiện chùa bảo tồn được ba sắc phong cổ viết bằng chữ Hán, gồm: Một sắc phong ban năm 1825, triều vua Minh Mạng. Một sắc phong ban năm 1923, triều vua Khải Định. Một sắc phong từ thời vua Lê – chúa Trịnh. Đặc biệt, trong đó có sắc phong ban Thánh Mẫu Bạch Hoa phu nhân do vua Khải Định phong tặng. Các sắc phong đều ghi tên hành chính cũ là: “Trình Hoàng xã – Kiến Xương phủ”, đồng thời xác nhận: “Trình Hoàng xã có công phục quốc”. Phản ánh vai trò quan trọng của làng trong lịch sử bảo vệ đất nước và sự ghi nhận của triều đình phong kiến.
Chùa có số lượng tượng Phật và tượng thờ rất lớn, trải khắp các không gian từ Tam Bảo, lầu Quan Âm, nhà Tổ, nhà Thánh đến hậu cung. Một số pho tượng tiêu biểu:
- Tượng Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát: Gồm một pho lớn đặt tại lầu Quan Âm gần cổng chùa, và một pho nhỏ hơn tọa tại khu mộ tháp trong khuôn viên chùa.
- Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và các đức Phật khác: Tôn trí trang nghiêm tại cung thứ nhất của Chính điện, thờ Phật Thích Ca, Đức Ca Diếp, A Nan, Địa Tạng Vương Bồ Tát, Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Cung thứ hai cũng thờ các vị Phật.
- Tượng Đức Thánh Hiền và Đức Chúa Ông: Đặt hai bên tả hữu của cung thứ hai, thể hiện hài hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.
- Tượng Thánh Mẫu Bạch Hoa phu nhân: Thờ tại góc phải Hậu cung, là vị nữ thần được sắc phong và tôn kính tại địa phương.
- Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông: Một trong những tượng nổi bật do ni sư trụ trì cho tạc mới, đặt tại nhà Tổ, cùng với tượng Đức Phật Tổ Như Lai.
- Tượng Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn): Được ni sư rước từ đình làng Trình Hoàng về thờ tại chùa khi đình bị phá hủy.
Đặc biệt, kể từ khi về trụ trì, ni sư Thích Đàm Minh đã cho tạc mới 24 pho tượng, đồng thời tô vẽ, tu sửa toàn bộ hệ thống tượng Phật trong chùa, giúp khôi phục không gian thờ tự tôn nghiêm, bền vững về mặt nghệ thuật và tâm linh.
Sự kiện và lễ hội
Chùa Phúc Lâm Tự duy trì đều đặn các hoạt động lễ bái và sinh hoạt tín ngưỡng. Vào các ngày rằm và mùng một hàng tháng, cũng như trong những dịp đại lễ Phật giáo hay các tiết lễ truyền thống trong năm, đông đảo Phật tử trong thôn, ngoài xã và khách thập phương đều về chùa dâng hương lễ Phật.
Xếp hạng
Vào ngày 10/10/2002, chùa Phúc Lâm Tự đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình cấp bằng công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Tỉnh. Đây là sự ghi nhận xứng đáng cho những đóng góp to lớn của chùa trong hai cuộc kháng chiến, cũng như vai trò tiêu biểu trong đời sống tín ngưỡng và văn hóa địa phương.
Bên cạnh đó, chùa còn được Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh và cấp huyện đánh giá là “Chùa cảnh bốn gương mẫu” – một danh hiệu được duy trì nhiều năm liền, khẳng định nếp sống tu hành nghiêm túc, cảnh quan thanh tịnh, hoạt động Phật sự tích cực và mối liên hệ tốt đẹp với cộng đồng.
Tham khảo
- Lê Thị Thu Hiền (2023), Di tích Lịch sử Văn hóa chùa Phúc Lâm Tự thôn Trình Hoàng – xã Vũ Lễ – Kiến Xương – Thái Bình, Cổng thông tin xã Vũ Lễ.
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
I. Name and Geographical Location
Phuc Lam Tu Pagoda is an ancient temple located in Vu Le Commune, Kien Xuong District, Thai Binh Province. Situated right along the inter-district road in Trinh Hoang Hamlet, it is affectionately known by locals as Trinh Hoang Pagoda. Beyond being a spiritual anchor for the community, it has long served as a local center of Buddhist activities.
According to villagers, the pagoda was once called Chua Vang (“Golden Pagoda”) for the golden hue of its roof tiles and radiant aura in the fertile countryside. The name imprinted itself on local life: Trinh Hoang Village was popularly called Lang Vang (“Golden Village”), and the nearby river landing was known as Ben Vang (“Golden Wharf”). Today, Ben Vang remains a sacred site with shrines to Ba Co (the Three Maidens) and Duc Thanh Tran (Hung Dao Dai Vuong Tran Quoc Tuan), symbolizing spiritual faith and ancestral reverence.
II. History and Historical Figures
The current abbess is Venerable Thich Dam Minh, age 75, who has cared for the pagoda since 1971—52 years as of 2023.
Based on accounts from former abbots and surviving archival materials, Phuc Lam (Trinh Hoang) Pagoda was first established in the late Ly–early Tran period (early 13th century)—an era when Buddhism, as the state religion, flourished in doctrine, architecture, sculpture, and spiritual life. Its founding attests to the early spread of Buddhism to the fertile, populous, and culturally rich land of Kien Xuong–Thai Binh.
The abbot recounts that Phuc Lam was founded around the same time as Keo Pagoda (in Duy Nhat Commune, Vu Thu District), a hallmark of Ly–Tran Buddhism in Thai Binh. At inception, the pagoda covered about 1.5 mau (≈ 5,400 m²) with the Tam Bao (Main Hall) and Patriarch Hall as principal buildings. Through historical vicissitudes, the precinct now measures ≈ 1.05 mau (≈ 3,780 m²), yet retains a harmonious layout and solemn serenity.
Beyond its religious role, Phuc Lam Tu was a venue and witness to key revolutionary events. Before the August Revolution of 1945, the Viet Minh organized the village Youth League here and mobilized the populace. Nun Vu Thi Vien, the abbess then, enabled clandestine Viet Minh activities. On 20 August 1945, the red flag with a yellow star was first raised here, and villagers elected the Provisional People’s Committee—the first revolutionary local government of Trinh Hoang. On 6 January 1946, the pagoda hosted National Assembly Election (1st Legislature) polling for the DRV. From 1946–1949, it served for Viet Minh and mass-front cadre training, militia drills, rectification conferences, and cadre schooling. In 1950–1952, army units garrisoned here, dug shelters, stored arms, set up liaison posts, and held enlistment rallies; notably, in 1952 it temporarily held 100 French POWs. In 1954, during the Niem Ha outpost assault, the pagoda functioned as a field hospital. During the anti–U.S. resistance, the Thai Binh Public Security Department and the Thai Binh Provincial Mechanics Sub-Department evacuated to and operated from the pagoda (each for four years).
III. Architecture and Landscape
Phuc Lam stands on an auspicious, elevated, square plot at the dragon’s head position, facing southwest. Its plan reflects Ly-style design with “noi cong ngoai quoc” composition and a “Cong” (工) layout – front Buddha, rear Patriarch (tien Phat, hau To)—with eight roofs. The front faces an inter-district/provincial road; the other three sides adjoin residences.
Main components: front gate, Guan Yin Pavilion, Tam Bao, Mother Goddess Hall, Saints Hall, Patriarch Hall, monks’ quarters, stupa cemetery, courtyards, and gardens. Two bodhi trees shade the entrance. The gate is lofty and ornate with dragon–phoenix carvings. Two ancient wells—the “dragon’s eyes”—remain inexhaustible even in drought: one near the gate flanked by a frangipani and a banyan whose interlaced roots form a venerable scene; the other by the rear stupa area.
From the gate: the well lies to the right; to the left, the elevated Guan Yin Pavilion with a benevolent Avalokitesvara statue; nearby stands a large stone gong (khanh). A 14.5 m × 6 m courtyard leads to the Tam Bao / Dai Hung Bao Dien, the ceremonial heart of the pagoda.
Originally built entirely of wood like Keo Pagoda, later deteriorated sections were reinforced in concrete, while the main worship space preserves its traditional timber frame. The Tam Bao comprises three blocks, each with eight roofs (four upper, four lower), six main pillars supporting the upper tier, and an under-roof system of secondary posts, ke struts and xa bay beams forming the lower eaves. Dragon-scale carvings adorn the struts; door beams bear floral motifs. The carved portal before the Buddha altar features three large characters: “Phuc Lam Tu.”
Within are the Guardian Deities (Ho Phap), Dragon–Heaven (Long Thien), three worship chambers, a bell tower, and the Rear Sanctuary. A stone stele dated Giap Than, Minh Mang 5 (1824) lists renovation sponsors and a Sino-Vietnamese poem, translated by Tran Ngoc Thoai (native educator of Trinh Hoang), opening with:
Our pagoda’s blessings as a forest abound;
Beneath Buddha’s sky, nature resounds…
Behind stands the bell tower, accessed by ladder; it houses a 70 kg bronze bell cast in Gia Long 2 (1803) whose peal carries up to 3 km.
Main Hall:
- Chamber I: Shakyamuni with Kasyapa, Ananda, Ksitigarbha, Bhaisajyaguru, flanked by Azure Dragon and White Tiger.
- Chamber II: communicates with the Mother Hall and monastic quarters, also enshrining Buddhas; left altar: Duc Thanh Hien; right altar: Duc Chua Ong.
- Rear Sanctuary: right corner venerates Saintly Mother Bach Hoa Phu Nhan, who received an imperial patent from Khai Dinh (the decree survives).
Behind the Tam Bao: Mother Hall (left), linked to quarters and kitchen; Saints Hall / Guest Hall (right), built as long, narrow “tube houses,” enclosing a rear court. The Saints Hall venerates Duc Thanh Tran (Tran Quoc Tuan) and preserves photos and memorabilia of the abbess’s investiture.
From the rear court: the abbess’s quarters sit left; center stands the Patriarch Hall (formerly a five-bay earth house) venerating Buddha Tathagata and Phat Hoang Tran Nhan Tong, with a couplet on the main posts:
Nhat tam hieu dao can khon tai / Van co cuong thuong nhat nguyet minh”
(“Single-hearted filial–moral devotion sustains Heaven and Earth;
Eternal moral order shines by sun and moon.”)
A framed Provincial Historic–Cultural Site certificate is displayed here. The monastic quarters include seven simple rooms. Right of the Patriarch Hall lies the stupa cemetery near the second dragon well: one stupa dais, a small Guan Yin statue, and three ancient stupas for departed monks; behind them rise five giant Parashorea chinensis trees forming the character “Nhat” (一). According to the abbess, this species now survives only at Huong Tich Pagoda, Cuc Phuong Forest, and Trinh Hoang Pagoda; locals call them the “five old Cho trees.”
Since 1971, Venerable Thich Dam Minh has restored the war-damaged pagoda (severe destruction in anti-French and anti–U.S. wars). Major works include Tam Bao restorations in 1985 (At Suu) and 2010 (Canh Dan), a new Saints Hall in 2011 (Tan Mao), and other upgrades—thanks to devotees, authorities, and patrons.
Shaded by plumeria, banyan, bodhi, apricot, Aglaia (ngau) and fruit trees (jackfruit, pomelo, longan), red-brick paths keep the grounds cool, clean, and dignified. Though near a busy road and residences, the pagoda remains tranquil and time-honored. On full- and new-moon days and major festivals, pilgrims come in large numbers.
IV. Artefacts and Relics
- Stone Gong (Khanh): a large, ancient ceremonial instrument near the Guan Yin statue—graceful form, warm resonance, rare and intact.
- Stone Stele (1824, Minh Mang 5, Giap Than): in the Tam Bao, listing renovation stewards and bearing a Sino-Vietnamese poem—valuable for Nguyen-era language, poetics, and belief.
- Ancient Bronze Bell (Gia Long 2 / 1803, ~70 kg): far-carrying tone (≈ 3 km), demonstrating masterful casting and the pagoda’s spiritual centrality.
- Imperial Patents (Sac Phong): three Sino-script decrees—1825 (Minh Mang), 1923 (Khai Dinh), and one from Le–Trinh times; notably, a patent conferring Saintly Mother Bach Hoa Phu Nhan by Khai Dinh. They record the old administrative name “Trinh Hoang xa – Kien Xuong phu” and recognize the village’s “service in national restoration.”
- Statues (select):
- Avalokitesvara (Quan The Am): one large statue in the Pavilion near the gate; one smaller statue in the stupa grounds.
- Shakyamuni and other Buddhas: solemnly enshrined in the Main Hall (Chamber I & II).
- Duc Thanh Hien and Duc Chua Ong: flanking Chamber II.
- Saintly Mother Bach Hoa Phu Nhan: in the Rear Sanctuary (imperially patented).
- Phat Hoang Tran Nhan Tong and Buddha Tathagata: in the Patriarch Hall.
- Duc Thanh Tran (Tran Quoc Tuan): transferred from Trinh Hoang communal temple when it was destroyed.
- Since 1971, Abbess Thich Dam Minh has commissioned 24 new statues and restored the entire sculptural system, reviving sacred space and artistic integrity.
V. Events and Festivals
Regular rites and worship are maintained. On monthly 1st and 15th lunar days, Buddhist holy days, and traditional festivals, devotees and visitors from near and far gather to offer incense and pray.
VI. Official Recognition
On 10 October 2002, Phuc Lam Tu was certified a Provincial-level Historical–Cultural Relic by the Chairman of the Thai Binh Provincial People’s Committee, recognizing its contributions during the wars and its exemplary role in local religious and cultural life. The pagoda has also been rated “Four-Model Scenic Pagoda” for many years by the Vietnam Buddhist Sangha at provincial and district levels, honoring disciplined practice, serene environment, active Buddhist affairs, and strong community ties.
2. Tiếng Pháp (French)
I. Nom et situation géographique
La pagode Phuc Lam Tu est un ancien temple bouddhique situé dans la commune de Vu Le, district de Kien Xuong, province de Thai Binh. Établie au bord de la route inter-district, dans le hameau Trinh Hoang, elle est aussi appelée affectueusement pagode Trinh Hoang. Elle constitue à la fois un refuge spirituel et un centre d’activités bouddhiques locales.
Selon la tradition, la pagode s’appelait autrefois Chua Vang (« Pagode Dorée ») en raison de l’éclat de ses tuiles et de sa lumière au cœur d’une campagne prospère. Le toponyme a marqué la vie locale : Lang Vang (le « village doré ») et Ben Vang (le « débarcadère doré »). Aujourd’hui, Ben Vang demeure un lieu sacré où l’on vénère Ba Co et Duc Thanh Tran (Hung Dao Dai Vuong Tran Quoc Tuan).
II. Histoire et personnages
L’abbesse actuelle, la vénérable Thich Dam Minh (75 ans), veille sur la pagode depuis 1971 (soit 52 ans en 2023).
D’après les récits des anciens supérieurs et les sources conservées, la pagode Phuc Lam (Trinh Hoang) fut fondée à la fin des Ly – début des Tran (début du XIIIe siècle), période d’apogée du bouddhisme en Dai Viet. Sa fondation atteste la diffusion précoce du bouddhisme vers Kien Xuong – Thai Binh. Contemporaine de la pagode Keo (commune de Duy Nhat, district de Vu Thu), elle couvrait à l’origine ≈ 1,5 mau (≈ 5 400 m²), avec Tam Bao (Grand sanctuaire) et Maison des Patriarches comme noyau. Aujourd’hui, l’enceinte mesure ≈ 1,05 mau (≈ 3 780 m²), tout en conservant un agencement harmonieux et solennel.
Lieu témoin d’événements révolutionnaires : avant août 1945, la Jeunesse Viet Minh y fut organisée ; l’abbesse Vu Thi Vien facilita les activités clandestines. Le 20 août 1945, le drapeau rouge à étoile d’or y fut hissé pour la première fois et le Comité populaire provisoire du village y fut élu. Le 6 janvier 1946, la pagode servit de bureau de vote pour l’élection de la 1re Assemblée nationale. 1946–1949 : formations de cadres, milices et conférences ; 1950–1952 : cantonnement d’unités, dépôts d’armes, liaisons, appels à l’engagement, et, en 1952, détention temporaire de 100 prisonniers français. En 1954, hôpital de campagne lors de l’assaut du poste de Niem Ha. Pendant la résistance anti-américaine, le Département de la Sécurité publique de Thai Binh et la Sous-direction provinciale de la Mécanique s’y replièrent (chacune 4 ans).
III. Architecture et paysage
Implantée sur un terrain élevé et carré, en position de tête de dragon, orientée sud-ouest, l’architecture relève du style Ly avec composition « noi cong ngoai quoc » et plan en « Cong » (工) – « devant Bouddha, derrière Patriarches » – à huit toitures.
Ensemble principal : portail, pavillon de Guan Yin, Tam Bao, Maison de la Mère, Maison des Saints, Maison des Patriarches, quartiers monastiques, cimetière de stupas, cours et jardins. Deux figuiers des pagodes ombragent l’entrée ; deux puits anciens (« yeux du dragon ») ne tarissent jamais. Cour 14,5 × 6 m menant au Dai Hung Bao Dien. Ossature en bois (avec consolidations ultérieures en béton), trois corps à huit toitures chacun, six grands poteaux, charpente traditionnelle (ke, xa bay) ornée d’écailles de dragon ; le portail sculpté porte « Phuc Lam Tu ». Tour de la cloche à l’arrière : cloche de bronze 70 kg (Gia Long 2, 1803), audible jusqu’à 3 km.
Disposition cultuelle :
- Salle 1 : Shakyamuni, Kasyapa, Ananda, Ksitigarbha, Bhaisajyaguru, flanqués du Dragon azur et du Tigre blanc.
- Salle 2 : reliée à la Maison de la Mère et aux quartiers ; autels latéraux Duc Thanh Hien (gauche) et Duc Chua Ong (droite).
- Arrière-sanctuaire : Sainte Mère Bach Hoa Phu Nhan (brevets impériaux de Khai Dinh conservés).
À l’arrière : Maison de la Mère (gauche), Maison des Saints/Accueil (droite). Maison des Patriarches au centre (vénère Bouddha Tathagata et Phat Hoang Tran Nhan Tong), distique :
« Nhat tam hieu dao can khon tai / Van co cuong thuong nhat nguyet minh »
(« Une piété morale d’un seul cœur soutient le Ciel et la Terre ;
L’ordre éternel brille du soleil et de la lune. »)
À droite : cimetière de stupas et cinq Parashorea géants (caractère 一).
Restaurations majeures : 1985 (At Suu), 2010 (Canh Dan) ; Maison des Saints neuve en 2011 (Tan Mao).
IV. Objets et reliques
- Khanh de pierre ancien, au timbre grave et chaud.
- Stèle (1824, Minh Mang 5, Giap Than) : liste des rénovateurs et poème sino-vietnamien.
- Cloche de bronze (1803, Gia Long 2, ~70 kg) : portée sonore ≈ 3 km.
- Brevets impériaux (Sac phong) : 1825 (Minh Mang), 1923 (Khai Dinh), et un époque Le–Trinh ; notamment la patente pour Sainte Mère Bach Hoa Phu Nhan ; mention de « Trinh Hoang xa – Kien Xuong phu » et du mérite « service de restauration nationale ».
- Statuaire : Avalokitesvara (grand et petit), Bouddhas (Salles 1–2), Duc Thanh Hien, Duc Chua Ong, Bach Hoa Phu Nhan, Phat Hoang Tran Nhan Tong, Duc Thanh Tran. Depuis 1971, l’abbesse Thich Dam Minh a commandé 24 statues nouvelles et restauré l’ensemble.
V. Événements et fêtes
Culte régulier ; grande affluence aux 1er et 15e jours lunaires, fêtes bouddhiques et fêtes traditionnelles.
VI. Classement officiel
Le 10 octobre 2002, Phuc Lam Tu a été reconnue Vestige historique et culturel provincial par le Président du Comité populaire de la province de Thai Binh. La pagode est aussi distinguée depuis des années comme « Pagode scénique à quatre modèles » par l’Église bouddhique du Vietnam (échelons provincial et de district).
3. Tiếng Trung (Chinese)
一、名称与地理位置
福林寺坐落于太平省建昌县武礼社,地属呈黄村,因紧邻县际道路,民间又称呈黄寺。寺院既是当地的精神依托,亦是多十年来的佛教活动中心。
相传古时寺名为金寺,因瓦色金黄、光辉照耀乡野。“金”之名深植民间记忆:呈黄村曾被称作金村,邻近渡口亦名金渡。今金渡仍为神圣之地,立有三姑娘与圣陈(即兴道大王陈国俊)的祠祀,象征信仰与寻根传统。
二、历史与人物
现任住持为释谈明尼师,今年75岁,自1971年接管寺务,至2023年整52年。
据住持口述与遗存文献,福林(呈黄)寺肇建于李末陈初(十三世纪初)。彼时大越文明鼎盛,佛教为国教,教理、建筑、雕塑与精神生活皆臻极盛,佛教之印迹由此早及建昌—太平沃野。寺与高寺(Keo)同世而建。初建时占地约1.5亩北部田制(约5,400平方米),以三宝殿与祖堂为核心;今存约1.05亩(约3,780平方米),格局仍和雅庄严。
除宗教功能外,福林寺亦为多起革命史事之见证地:1945年8月革命前,越盟在寺成立青年团并动员群众;彼时住持武氏嫒尼师积极支援秘密活动。1945年8月20日,红旗金星首次在寺飘扬,村民选举临时人民委员会。1946年1月6日,寺为越南民主共和国第一届国会选举投票点。1946—1949年,寺为越盟与群众团体干训、民兵训练、整风整军与干部学校之地。1950—1952年,部队驻扎、构筑掩体、贮械、设交通联络站并举行征兵大会;1952年曾暂押法军俘虏100人。1954年攻打念夏据点时,寺为战地救护所。抗美时期,太平省公安厅与省机械分局先后内迁在寺办公,各四年。
三、建筑与景观
寺据龙头位之高阔方整地势,坐向西南。格局承李式风貌,采用**“内工外郭”布局与“工”字形**结构,前佛后祖,八檐相叠。前临县省道路,三面邻里民居。
主体:山门、观音楼、三宝殿、母堂、圣堂、祖堂、僧寮、塔墓区、庭院与花园。门外两株菩提荫浓。寺内有两口古井为“龙眼”:一在山门侧,与鸡蛋花、榕树盘根错节相映;另一在后部塔墓区。旱时亦不涸。自门入,右为寺井,左为观音楼(供观世音菩萨),旁置古石磬一面。长14.5米、宽6米之前院通往三宝殿/大雄宝殿。
三宝殿本为全木构(似高寺),后部分以混凝土修护,主祭区仍保传统木构。全殿分三栋、各八檐(上四下四),以六根大柱承上层,辅以科、枋等形成下层屋面。龙麟雕饰布于科板,门枋饰花纹,佛前金漆楣枋镌**“福林寺”三大字。殿内设护法、龙天、三供殿、钟楼、后殿**。甲申·明命五年(1824)立之石碑载修寺人名并刻汉诗,土生教育家陈玉泰译诗开篇曰:
“寺我福泽如林盛,佛天之下自然荣……”
其后为钟楼,登梯方可击钟。存古铜钟一口,嘉隆二年(1803)铸,重70千克,钟声传三公里。
正殿供奉:
- 第一供:释迦牟尼与迦叶、阿难、地藏、药师,左右置青龙、白虎。
- 第二供:通母堂与僧寮,亦供诸佛;左祀德圣贤,右祀德主公。
- 后殿:右角祀圣母白花夫人(存启定帝所赐敕封)。
三宝殿后:左为母堂(连寮与灶),右为圣堂/客堂(长形“管屋”对置),中围后庭。圣堂祀德圣陈(陈国俊),并陈住持受册时影像与文物。后庭正中为祖堂(旧为五间土屋),供如来佛祖与佛皇陈仁宗,中柱楹联:
“一心孝道乾坤在 / 万国纲常日月明。”
祖堂旁悬省级历史文化遗迹证书。右侧为塔墓区(近第二龙井),有塔台一、小观音一、古塔三。其后五株大乔(Parashorea)成“一”字形参天蔽日。
自1971年以来,释谈明尼师主持修复战损:1985(乙丑)、2010(庚寅)两度大修三宝殿,2011(辛卯)新建圣堂,并续有多项整修,赖诸信众、当局与善士襄助。寺内红砖甬道洁净,鸡蛋花、榕、菩提、梅、兰桂与菠萝蜜、柚、龙眼等果木成荫,环境清丽静穆。逢朔望与诸佛教节庆,香客云集。
四、文物与遗存
- 石磬:体量宏大,音色浑厚,为珍贵法器。
- 石碑(1824 明命五年 甲申):载修寺名录与汉诗,具阮朝语言、诗学与信仰价值。
- 古铜钟(1803 嘉隆二年,约70千克):钟声远达三公里。
- 敕封文书(敕榜):1825(明命)、1923(启定)及一件黎–郑时敕书;其中特别载启定帝敕封圣母白花夫人。敕文称旧行政属**“呈黄社—建昌府”,并记“呈黄社有功复国”**。
- 造像(择要):观世音(门楼大像、塔区小像),释迦与诸佛(正殿),德圣贤、德主公(第二供),白花夫人(后殿),佛皇陈仁宗与如来(祖堂),德圣陈(陈国俊)(自呈黄社庙迁祀)。自1971年起,住持新塑二十四尊并全面修复旧像。
五、活动与节庆
常年举行礼拜与法会。农历初一、十五及佛教与民俗大典,善信与游客纷至。
六、官方认定
2002年10月10日,福林寺获太平省人民委员会主席签发省级历史文化遗迹证书。寺亦多年被越南佛教会(省、县两级)评为**“四模范景寺”**,彰显清规严谨、环境清净、佛事活跃与良好社会联系。