Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Đông Hội nằm ở thôn Đông Hội, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Năm 2025, sau khi địa giới hành chính được điều chỉnh, khu vực này hiện thuộc xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình.
Đây là một ngôi đền cổ nổi tiếng, được xây dựng từ thời Hai Bà Trưng (40-43) và được đánh giá là một trong những ngôi đền có niên đại sớm nhất của tỉnh Ninh Bình. Trước đây, đền có tên là chùa Thanh Xuân, sau đổi thành Đền Đông Hội, lấy theo tên địa danh thôn Đông Hội. Đền có vị trí đắc địa bên bờ sông Vạc, từng là vùng đất hiểm yếu, chứng kiến và tham gia nhiều cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm qua các triều đại như thời Hai Bà Trưng, thời Trần, thời Quang Trung.
Đây không chỉ là nơi thờ tự ba vị anh hùng dân tộc họ Trần, thời Hai Bà Trưng mà còn là minh chứng sống động cho tài hoa nghệ thuật của các nghệ nhân xưa tại vùng đất Hoa Lư.
Lịch sử và nhân vật
Đền Đông Hội nguyên là chùa Thanh Xuân, được dựng từ thời Hai Bà Trưng (40-43). Nơi đây thờ ba anh em ruột họ Trần: Đống Bụt Đống Ấm Đại Vương (anh cả), Diệu Vũ Dương Uy Đại Vương (anh thứ), Ngọc Nữ Trần Hoa Công chúa (em út), là những vị tướng tài giỏi đã có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống lại ách đô hộ, những vị tướng kiệt xuất thời Hai Bà Trưng.
Theo truyền thuyết, cuối những năm 20, tại Tổng Cẩm Bối (nay thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam) có ông Trần Hãn vốn là người nổi tiếng đức độ, không chỉ giỏi y thuật mà còn tinh thông thơ văn và võ nghệ. Vợ ông Trần Hãn, bà Vũ Thị Ba, là người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, cùng chồng làm nghề bốc thuốc, cứu giúp người dân trong vùng. Tương truyền, vợ chồng ông bà vốn quê ở Thanh Liêm, Hà Nam, từng tìm đến chùa Thanh Xuân để cầu tự. Nhờ lòng thành kính, họ được Long Thần ban phúc và hạ sinh ba người con tài sắc vẹn toàn: con trai trưởng tên Đống Bụt, con trai thứ tên Diệu Vũ, và cô con gái út xinh đẹp tuyệt trần mang tên Ngọc Nữ Trần Hoa. Hai người con trai lớn khi trưởng thành đều nổi tiếng giỏi võ nghệ, còn Trần Hoa lại có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” và trí tuệ hơn người.
Đến năm 34, Tô Định viên Thái thú được nhà Đông Hán (Trung Quốc) cử sang cai quản Giao Chỉ, nghe danh Trần Hoa tài sắc vẹn toàn liền nảy sinh ý đồ muốn lấy nàng về làm tỳ thiếp. Khi mưu đồ bị khước từ, hắn đã tức giận ra tay giết hại ông Trần Hãn để trả thù. Ba người con của ông phải trốn chạy khỏi quê nhà, tìm đến vùng Hoàng Sơn Hạ Khu (nay là thôn Đông Hội, xã Ninh An, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) để lánh nạn. Tại đây, họ nương náu trong một ngôi chùa cổ khi ấy mang tên chùa Thanh Xuân, đồng thời ngày đêm rèn luyện võ nghệ, chiêu mộ binh sĩ, quyết nuôi chí lớn báo thù cho cha và cứu dân thoát cảnh lầm than.
Đầu năm 40, khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa để trả thù nhà, đền nợ nước, ba anh em họ Trần hưởng ứng nhiệt thành. Họ đã chiêu mộ được 500 nghĩa binh từ vùng Hoàng Sơn Hạ Khu, trong đó có 50 quân lính là con em của làng, cùng kéo về Hát Giang hợp sức với nghĩa quân Trưng Vương. Dưới ngọn cờ khởi nghĩa, ba anh em lập nhiều chiến công hiển hách, khiến quân thù khiếp sợ.
Nhờ đó, họ được Hai Bà Trưng giao nhiệm vụ: Đống Bụt được phong Đô Đốc Đại tướng quân, Diệu Vũ được phong Dương Uy Đại tướng quân, Ngọc Nữ Trần Hoa giữ chức Tham tán mưu sư cùng Hai Bà Trưng đánh giặc. Trải qua những trận chiến oanh liệt, quân khởi nghĩa giành thắng lợi vang dội, Tô Định hoảng hốt tháo chạy về phương Bắc. Hai Bà Trưng thu phục 65 thành trì ở Lĩnh Nam, lên ngôi xưng hiệu Trưng Nữ Vương và đóng đô tại Phong Châu.
Hoàn thành việc lớn, ba anh em họ Trần xin phép trở về quê hương để bái yết tổ đường. Họ quay lại vùng Hoàng Sơn Hạ Khu, Trang Dương Vũ, Tống Sơn Vũ tu sửa ngôi chùa Thanh Xuân, nơi từng là căn cứ chiêu binh và cư trú trước kia, đồng thời dâng tặng nhân dân 15 nén vàng làm công đức để cầu quốc thái dân an. Sau lễ bái tổ, ba anh em trở lại kinh đô tiếp tục phò tá Trưng Nữ Vương chống giặc ngoại xâm. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ sau đó, cả ba anh em đều đã anh dũng hy sinh trên chiến trường.
Cảm kích trước tấm lòng trung nghĩa và công lao to lớn của họ, Trưng Vương đã truyền lệnh làm lễ an táng ba vị ở phía trái thành Phong Châu và sắc phong: Anh cả là Đống Ấm Đống Bụt Đại Vương, Anh thứ là Diệu Vũ Dương Uy Đại Vương, Cô em út là Ngọc Nữ Trần Hoa Công chúa.
Sau đó, để tưởng nhớ công đức của họ, nhân dân Dương Vũ đã sửa sang lại ngôi chùa Thanh Xuân, nơi ba vị từng cư trú và chiêu binh trở thành đền thờ. Ngôi đền ấy từ đó mang tên Đền Đông Hội, trở thành nơi thờ tự chính ba anh em họ Trần và là chốn linh thiêng cầu quốc thái dân an, gìn giữ hồn thiêng sông núi cho hậu thế.
Các triều đại phong kiến tiếp theo cũng ban sắc phong cho ba vị đồng thời yêu cầu nhân dân hàng ngày hương khói.
Nhà thơ Hoàng Quang Thuận đã từng viết đầy cảm khái về đền Đông Hội:
“Đền đá anh linh chống ngoại xâm,
Thờ ba danh liệt dòng họ Trần.
Thù nhà nợ nước nay đền trả,
Khói hương đền cổ đã phong thần.”
Bốn câu thơ ngắn gọn mà hàm chứa biết bao tự hào về một di tích linh thiêng , nơi tôn vinh ba anh em họ Trần, những bậc anh hùng đã cống hiến trọn đời cho công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ gìn non sông.
Trong dòng chảy lịch sử, đền Đông Hội không chỉ là nơi linh thiêng thờ phụng các bậc tiền nhân mà còn ghi dấu nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc. Nơi đây từng chứng kiến và tham gia vào những cuộc kháng chiến oanh liệt, khi trở thành điểm qua lại của nghĩa quân Tây Sơn trên đường tiến ra Thăng Long đánh tan quân Thanh vào mùa xuân năm 1789.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đền Đông Hội tiếp tục phát huy vai trò cách mạng khi được chọn làm nơi mở lớp đào tạo cán bộ cho các xã trong vùng giai đoạn 1945-1946, đây cũng là cơ sở đào tạo cán bộ đầu tiên của tỉnh Ninh Bình sau ngày độc lập.
Trong những năm 1947-1948, ngôi đền trở thành trụ sở làm việc của Ủy ban Hành chính tỉnh Ninh Bình, đồng thời là cơ sở chỉ đạo phong trào cách mạng tại ba huyện miền Nam: Yên Khánh, Yên Mô và Kim Sơn. Đến năm 1949, khi thực dân Pháp tràn vào chiếm đóng ba huyện này, đền Đông Hội trở thành trung tâm kháng chiến, nơi tổ chức những trận bắn phá quyết liệt chống lại giặc Pháp.
Những năm tiếp theo, đền còn được sử dụng làm kho chứa thóc, lương thực phục vụ kháng chiến. Đặc biệt, đây cũng là bến nghĩa đò quan trọng, đưa đón cán bộ, bộ đội vượt sông vào hoạt động tại ba huyện miền Nam, góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cách mạng.
Trải qua bao biến thiên của lịch sử và chịu tác động khắc nghiệt của thời gian, đền Đông đang đứng trước nguy cơ xuống cấp nghiêm trọng. Nằm ngoài đê, ngôi đền thường xuyên hứng chịu cảnh ngập lụt hằng năm, khiến các cột nhà bị mối mọt xâm hại, phần tường bong tróc, mái ngói hư hỏng, và nhà bia võng mái nặng nề.
Mặc dù nhân dân địa phương đã nhiều lần nỗ lực tu sửa, nhưng do thiếu kinh phí tôn tạo, di tích vẫn chưa được thực hiện. Không chỉ riêng đền Đông Hội, nhiều di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh khác cũng đang từng ngày mong mỏi sự quan tâm, bảo vệ để không bị mai một theo thời gian.
Hiện nay, đền Đông Hội vẫn là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân địa phương và du khách thập phương, là nơi diễn ra những hội hè, đình đám, lễ tiết mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.
Kiến trúc cảnh quan
Ngôi đền tọa lạc trên mảnh đất rộng rãi bên bờ sông Vạc, giữa khung cảnh đồng ruộng mênh mông của dân làng. Kiến trúc đền dựng chủ yếu bằng đá, công trình kiến trúc độc đáo, ghi dấu bàn tay tài hoa của những người thợ đá lừng danh vùng Hoa Lư xưa. Khác với nhiều ngôi đền khác, đền không có tường rào bao quanh, tạo cảm giác thoáng đãng, hòa quyện cùng cảnh sắc thiên nhiên.
Hiện nay, đền có các hạng mục chính gồm: Cổng, Đền chính và Nhà Bia.
Cổng
Cổng đền có cấu trúc đơn giản được tạo nên từ hai trụ cột cao, không trang trí cầu kỳ. Nối liền hai trụ là bức tường lửng dài khoảng 1,5m, trên đó đắp nổi hai bức tượng môn thần oai phong, mỗi vị án ngữ một bên. Hai bên cổng chính là hai cổng phụ nhỏ hơn, cao chưa tới 1m, thiết kế hai tầng với lối cửa vòm. Từ cổng là dãy tường bao chạy nối liền với Nhà bia.
Bước qua cổng, cách khoảng sân ngắn là bức bình phong hình chữ nhật ngang, hai bên là hai trụ cột vuông thấp. Ở chính giữa bình phong nổi bật hình chữ tròn bên trong khắc “Thọ.
Đền chính
Từ cổng vào, sẽ bước qua một khoảng sân rộng trước đền, khoảng sân này chỉ được đổ nền bê tông ở lối đi đi, còn lại là nền cỏ mọc. Ngôi đền có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh (丁), gồm Tiền đường 5 gian và Hậu cung 4 gian, với kết cấu hài hòa giữa đá và gỗ, cùng hệ thống cột đá ở từng gian, phần hiên với 6 cột đá vững chãi.
Gian giữa Tiền Đường rộng tới 4m, mỗi gian có cửa võng tinh xảo, xà nách và ván bưng bên trong đều được chạm khắc nổi các họa tiết Tứ linh (long, ly, quy, phượng) mềm mại, sinh động.
Hậu Cung là phần nối liền ở gian giữa Tiền Đường chạy dài về phía sau, gồm 4 gian dọc, phía gian đầu tiên, có diện tích nhỏ, hai bên đặt hai sập đá nguyên khối đối xứng, phía trên lối vào có hệ thống cửa võng, chạm khắc nổi hình hoa sen hóa rồng, một loại họa tiết rất hiếm gặp.
Gian trong cùng của Hậu Cung là nơi đặt bệ thờ ba long ngai sơn son thếp vàng được bố trí theo hình tam giác: Long ngai giữa thờ Đống Bụt, Long ngai bên phải (quay lưng vào tường tay phải) thờ Diệu Vũ, Long ngai bên trái (quay lưng vào tường tay trái) thờ Ngọc Nữ Trần Hoa.
Điểm độc đáo nhất của Hậu Cung nằm ở hệ thống cột đá, tất cả các cột đều bằng đá vuông và tròn, trong đó các cột cái tròn cao tới 4,5m, được tạc nguyên khối không hề chắp nối, đường kính gần 0,4m. Trên bề mặt cột là những chạm khắc nổi tinh xảo, mô tả vân long cuốn thủy, cá vượt vũ môn, long giáng, long thăng cùng những hình tượng sen hóa rùa và Tứ linh. Những con rồng đá uốn lượn, uyển chuyển, đầu nhô ra khỏi thân cột đến 15cm, râu mềm mại như tơ.
Ngoài ra, nhiều chi tiết kiến trúc khác như trụ, đấu, bẩy, xà ngang, xà nách, khuông, bao ngưỡng cửa, hương án đều được chế tác hoàn toàn bằng đá, góp phần tạo nên tổng thể “ngôi đền đá”. Đặc biệt, toàn bộ tường Hậu Cung cũng được xây dựng bằng đá, một điều hiếm thấy trong kiến trúc đền chùa truyền thống.
Mái đền lợp ngói mũi hài, góc mái gắn hình con kìm, giữa nóc mái trang trí hình hổ phù cõng cuồng lửa, vừa mang yếu tố phong thủy vừa tăng giá trị mỹ thuật.
Nhà Bia
Bước vào sân đền, phía tay phải là khu nhà bia gồm 3 gian nhỏ, lợp ngói mũi hài, với kiến trúc đơn giản. Tại đây đặt ba tấm bia đá, trong đó có một tấm bia hình vuông và bia cao nhất lên tới 2 mét. Trên các mặt bia đều được chạm khắc tinh xảo những dòng chữ Hán, vừa mang giá trị lịch sử sâu sắc vừa thể hiện tài nghệ điêu luyện của các nghệ nhân xưa.
Lễ hội
Từ bao đời nay, vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, nhân dân thôn Đông Hội lại long trọng tổ chức lễ hội truyền thống tại đền Đông Hội. Lễ hội thường kéo dài trong hai ngày, trở thành điểm hẹn linh thiêng, thu hút đông đảo du khách thập phương và con cháu xa gần về dâng hương, tưởng niệm ba anh em họ Trần, những vị anh hùng đã có công đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi.
Vào năm 2025, được sự nhất trí của Thường trực Đảng ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Ninh An, Ban Tổ chức Lễ hội truyền thống thôn Đông Hội tổ chức lễ hội trong 02 ngày, vào ngày 09 và 10 tháng 2 Âm lịch.
Lễ hội gồm hai phần chính: Phần lễ và Phần hội.
Ngày 09/2/2025 Âm lịch, phần lễ bắt đầu với nghi thức dâng hương của các đoàn đại biểu lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND xã, tiếp đó là lễ Tế nhập tịch, nghi lễ các cửa họ vào dâng hương và kết thúc trong ngày với nghi thức Tế bán dạ.
Ngày 10/2/2025 Âm lịch, diễn ra các nghi thức Tế bán nhật, Tế tạ và bế mạc lễ hội.
Bên cạnh những nghi lễ trang trọng, lễ hội còn sôi nổi với nhiều hoạt động phần hội đặc sắc như rước kiệu, trò chơi dân gian cùng các tiết mục văn nghệ truyền thống, tạo nên không khí tưng bừng, gắn kết cộng đồng và để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách.
Di vật
Tại đền Đông hội hiện vẫn lưu giữ một quả trống đặc biệt, trên đó khắc tên nghĩa quân Tây Sơn dưới triều vua Quang Trung, một báu vật quý hiếm gắn liền với giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Đây không chỉ là minh chứng sống động về dấu ấn Tây Sơn mà còn là hiện vật mang giá trị văn hóa lịch sử.
Ngoài ra đền còn lưu giữ ba tấm bia đá đặt trong nhà bia, trong đó có tấm bia “Tạo lập văn bi” (造立文碑). Bia gồm 2 mặt, kích thước 60 x 85 cm, niên đại năm Vĩnh Hựu thứ 4 (1738). Nội dung văn bia ghi lại việc bà họ Trịnh cúng cho thôn 100 quan tiền và một số ruộng tế điền, được thôn cam kết cúng giỗ cho bản thân và cha mẹ bà.
Bên cạnh đó, đền còn lưu giữ một quả chuông đồng cổ, được treo bên trong đền, góp phần tôn thêm vẻ uy nghi và linh thiêng cho không gian thờ tự nơi đây.
Xếp hạng
Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, kiến trúc và văn hóa, đền Đông Hội đã được Bộ Văn hóa -Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 57-VH/QĐ ngày 18/1/1993.
Tài liệu tham khảo
-
- Lã Đăng Bật , Phật giáo ở Ninh Bình thời Đinh – Lê – Lý- Trần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 – 2009.
- Hoàng Quang Thuận, Tập thơ Hoa Lư thi tập, Viện hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam.
- Lịch sử đảng bộ tỉnh Ninh Bình, tập 1 (1930 – 1975), Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Ninh Bình ( 2023).
- Lời phỏng vấn của Ông Hoàng Văn Quyết, Nguyên vụ phó vụ thanh tra nhân dân – thanh tra chính phủ tại đền Đông Hội.
- Lời phỏng vấn của ông Nguyễn Như Thông, người cai quản đền Đông Hội
- Kênh youtube của Sỹ Đương Nguyễn, tổng hợp về làng Đông Hội.
Một bình luận
Còn tấm bia trụ 4 mặt “Thiên địa trùng cửu” tại nhà tả mạc hay (nhà bia không được nói đến?) nội dung của tấm bia cho ta biết hậu cung thờ vị nào.
còn một tấm biển do dân làng tạo dựng với nội dung thờ Hai Bà T cũng không được nhắc đếnrưng