Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Ngô Khê Hạ tọa lạc tại xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, một vùng đất giàu giá trị lịch sử, nằm tiếp giáp với Kinh thành Hoa Lư xưa. Đây từng là khu vực trọng yếu dưới triều đại Đinh -Tiền Lê (thế kỷ X), nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng và cũng là trụ sở của các cơ quan hành chính, đồn canh, góp phần bảo vệ sự an toàn cho Kinh đô Hoa Lư.
Ngày nay, sau đợt sáp nhập hành chính năm 2025, khu vực này đã trở thành phường Tây Hoa Lư, thuộc thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vị trí của đình vẫn giữ vai trò là một điểm nhấn văn hóa, lịch sử trong lòng quần thể di tích Cố đô.
Lịch sử và nhân vật
Đình Ngô Khê Hạ là di tích lịch sử, văn hóa quan trọng, được xây dựng vào thế kỷ thứ XVIII, gắn liền với tên tuổi Định Quốc công Nguyễn Bặc (chữ Hán: 阮匐; 924 – 7 tháng 11 năm 979), một danh tướng kiệt xuất và là bậc khai quốc công thần dưới triều Đinh. Ông là người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là xã Gia Hưng, Gia Viễn, Ninh Bình). Tương truyền, Nguyễn Bặc là người giỏi võ nghệ, có sức khỏe phi thường, từng tay không bắt sống cọp đem bán cho các hào phú, tính tình ông thẳng thắn, bộc trực.
Ông được ghi nhận là một trong “Tứ trụ triều đình” của nhà Đinh (cùng với Đinh Điền, Trịnh Tú và Lưu Cơ), có công lớn phò giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và lập nên nhà nước Đại Cồ Việt, nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Bặc là bạn đồng niên thuở thiếu thời với Đinh Bộ Lĩnh, cùng theo nhà vua chinh chiến, lập nhiều chiến công hiển hách. Khi đất nước thống nhất, ông được phong chức Định Quốc công, đứng đầu triều đình nhà Đinh.
Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị sát hại, Thái hậu Dương Vân Nga trao quyền cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm Phó vương, Nguyễn Bặc cùng một số trung thần bất bình, đã tập hợp lực lượng chống lại nhưng không thành. Ông bị bắt và bị xử tử tại vùng đất ven sông Chanh, nay thuộc thôn Ngô Khê Thượng, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư.
Tương truyền, ngay sau khi ông mất, nhân dân vùng này đã dựng đền thờ để tưởng niệm công lao của ông. Ban đầu, ngôi đền là nơi thờ chung của bốn thôn: Thanh Khê Thượng, Thanh Khê Hạ, Ngô Khê Thượng và Ngô Khê Hạ. Ngôi đền nằm ở phía Tây Đình Ngô Khê Hạ hiện nay, cách khoảng 1km. Tuy nhiên, một trận lũ lớn đã cuốn trôi ngôi đền, và từ đó, mỗi thôn đã xây dựng đền riêng để thờ Định Quốc công Nguyễn Bặc. Về sau, do nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, đền thờ tại Ngô Khê Hạ dần đảm nhận thêm chức năng của một ngôi đình làng, trở thành nơi tổ chức các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và giải quyết việc làng.
Đình Ngô Khê Hạ không chỉ là nơi tôn thờ Định Quốc công Nguyễn Bặc, vị anh hùng trung liệt được nhân dân tôn kính, mà còn ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử quan trọng trong phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đình từng là nơi cất giấu truyền đơn, áp phích cách mạng, và là điểm tập hợp của nhân dân vùng Ngô Khê trong các cuộc đấu tranh đòi giảm sưu thuế. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đình là nơi tập kết của lực lượng bộ đội, du kích, là kho chứa lương thực và địa điểm tiễn đưa thanh niên lên đường nhập ngũ. Đình cũng từng tổ chức bình dân học vụ, góp phần xóa mù chữ cho nhân dân.
Trải qua thời gian và biến động lịch sử, kiến trúc đình Ngô Khê Hạ bị xuống cấp và hư hỏng nặng. Dấu vết sớm nhất còn lại trên kiến trúc là dòng chữ Hán trên thượng lương Tiền Đường: “Hoàng triều Bảo Đại thập lục niên tuế Tân Tỵ (thập) nguyệt sơ thất nhật trùng tu thụ trụ thượng lương đại cát” (tạm dịch: Ngày mồng 7 tháng Mười năm Tân Tỵ, niên hiệu Bảo Đại thứ 16 ( 1941), trùng tu thượng lương đại cát). Trước năm 1970, Hậu Cung và miếu Bà Chúa bị phá bỏ. Đến giai đoạn 2018-2019, đình đã được trùng tu, tôn tạo lớn, mang lại diện mạo khang trang như hiện nay.
Ngày nay, đình không chỉ là nơi lưu giữ giá trị lịch sử, mà còn tiếp tục phát huy vai trò là không gian sinh hoạt văn hóa, tổ chức hội họp và thực hành tín ngưỡng của người dân trong làng.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Ngô Khê Hạ tọa lạc ở phía Bắc thôn Ngô Khê Hạ, bao quanh là cánh đồng lúa bát ngát và hệ thống ao hồ lớn nhỏ. Đình quay mặt về hướng Nam, hướng thẳng ra con đường Tiến Yết, trục đường xưa dẫn vào Kinh đô Hoa Lư thế kỷ X.
Trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, đình Ngô Khê Hạ ngày nay trở nên khang trang hơn với đầy đủ các hạng mục kiến trúc truyền thống: Cổng, Nghi môn, tòa Tả vu – Hữu vu và Đại Đình.
Cổng
Bắt đầu từ ngoài vào, nổi bật là một ao lớn hình chữ nhật, không chỉ tạo thế phong thủy mà còn góp phần điều hòa không gian và tăng thêm vẻ tĩnh lặng, trang nghiêm cho khu vực đình.
Cổng đình nằm phía trước bên trái của Đại Đình, được xây dựng hoàn toàn bằng đá, nối liền với hệ thống tường bao đá vững chắc. Cổng gồm hai trụ biểu hai bên, trên đỉnh mỗi trụ đắp hình tứ phượng uyển chuyển. Nối giữa hai trụ biểu là một mái đá với hai mặt mái cân xứng, chính giữa mái nổi bật với hình mặt trời chạm khắc tinh xảo.
Nghi Môn
Qua cổng ngoài, tiếp đến là Nghi môn tứ trụ bằng đá, gồm bốn cột trụ vững chãi. Đặc biệt, giữa hai trụ biểu lớn đặt một bức bình phong bằng đá chạm khắc hình cuốn thư, vừa có tác dụng chắn gió tà vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho tri thức và sự bảo hộ tâm linh.
Đại Đình
Bước qua khoảng sân rộng, là tiến vào khu Đại Đình, được bố trí theo kiểu “chữ Nhị” với hai hạng mục chính: Tiền Đường và Hậu Cung.
Tòa Tiền Đường có kiến trúc 5 gian 2 chái, một tầng hai mái với tường hồi bít đốc, bộ khung kiến trúc gồm 4 hàng chân cột, toàn bộ hệ thống cột được kê trên những chân tảng đá cổ bồng. Vì nóc được làm theo kiểu ván mê, các bức mê gian giữa và gian bên được trang trí hoa văn triện tinh xảo. Vì nóc và vì nách ngoài cùng vẫn sử dụng ván mê nhưng không có hoa văn trang trí. Vì nách gian giữa làm kiểu kẻ ngồi, còn gian bên lại sử dụng ván mê trang trí tương tự như vì nóc, tạo sự thống nhất trong toàn bộ kiến trúc.
Kết cấu hiên trước và hiên sau đều sử dụng bẩy gỗ truyền thống. Đặc biệt, gian chính giữa của Tiền Đường treo bức hoành phi “Trung Quán Nhật Nguyệt” (nghĩa là: lòng trung xuyên suốt mặt trời mặt trăng).
Hậu Cung nằm tách biệt phía sau, cách Đại bái một khoảng sân nhỏ, gồm 3 gian 2 chái, kết cấu vì nóc kiểu giá chiêng, chồng rường, vì nách kẻ ngồi, hiên sử dụng bẩy chéo. Công trình này mới được trùng tu vào năm 2019, mang dáng vẻ khang trang với kiến trúc một tầng hai mái, tường hồi bít đốc. Trước cửa Hậu cung đặt một sập đá nguyên khối có kích thước 1,7m x 1m x 0,5m.
Không gian thờ tự bên trong Hậu Cung được bài trí trang trọng, nổi bật là gian chính giữa với hương án đặt khám thờ kiểu mui luyện, sơn son thếp vàng. Bên trong khám, tượng Đình Quốc công Nguyễn Bặc được tạc bằng gỗ, khoác áo thụng, đầu đội mũ đại triều sơn son thếp vàng, chân đi hia, hai tay đặt úp hờ trên gối. Tượng được thể hiện với tư thế ngồi uy nghi, khuôn mặt toát lên vẻ cương nghị, ánh mắt nhìn thẳng như soi rọi hậu thế.
Phần mái đình với bờ chảy được xây giật cấp kiểu tay ngai, lợp ngói mũi truyền thống, chính giữa bờ mái đắp cuốn thư, hai đầu đắp đấu vuông gắn dải đường triện, tạo điểm nhấn mềm mại mà vẫn trang nghiêm.
Tả Vu/Hữu Vu
Ở phía trước Đại Đình, hai bên khoảng sân là hai tòa Tả Vu và Hữu Vu được bố trí đối xứng nhau, tạo nên sự cân đối và hài hòa cho tổng thể kiến trúc. Cả hai công trình đều có kiến trúc đơn giản với mái ngói truyền thống, mang dáng vẻ mộc mạc.
Tả Vu và Hữu Vu không chỉ đóng vai trò là bộ phận kiến trúc phụ trợ, mà còn là không gian phục vụ sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng. Đây là nơi nghỉ ngơi cho phật tử, nơi chuẩn bị đồ lễ, lưu trữ các đồ tế khí, và cũng là khu vực tập kết đồ lễ trong những ngày hội làng, góp phần giữ gìn nhịp sống văn hóa truyền thống gắn liền với di tích.
Lễ hội
Đình Ngô Khê Hạ không chỉ là một công trình kiến trúc cổ mà còn là nơi bảo tồn và trao truyền những giá trị văn hóa phi vật thể thông qua các nghi lễ thờ cúng và tế lễ truyền thống. Lễ hội lớn nhất của đình được tổ chức vào ngày 15 tháng 10 Âm lịch hằng năm, là ngày kỵ của Đinh Quốc công Nguyễn Bặc, vị tướng thời Đinh được nhân dân tôn thờ.
Phần lễ diễn ra trang nghiêm với nghi thức rước kiệu, trong đó các thôn rước kiệu từ đình làng của mình về tập trung tại đình Ngô Khê Hạ. Sau phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi với các trò chơi dân gian như thi đấu vật, nấu xôi chè, cùng nhiều hoạt động văn hóa cộng đồng.
Trước năm 1945, lễ hội đình Ngô Khê Hạ mang tính chất vùng miền rộng lớn khi tổ chức kết nối với các đình thờ Nguyễn Bặc ở những thôn lân cận. Theo lệ, cứ bốn năm một lần, nhân dân bốn thôn gồm Thanh Khê Thượng, Thanh Khê Hạ, Ngô Khê Thượng và Ngô Khê Hạ cùng nhau tổ chức lễ hội truyền thống.
Sau năm 1945, lễ hội đình Ngô Khê Hạ bị gián đoạn trong một thời gian dài. Những năm gần đây, lễ hội đã được khôi phục, tiếp nối truyền thống văn hóa của địa phương. Tuy nhiên, nghi thức rước kiệu cổ truyền vẫn chưa được phục dựng, và phần hội hiện chỉ gói gọn trong đêm giao lưu văn nghệ quần chúng được tổ chức vào tối trước ngày chính hội. Dù vậy, lễ hội đình Ngô Khê Hạ vẫn là dịp để cộng đồng gắn kết, ôn lại truyền thống và bày tỏ lòng tri ân tới các bậc tiền nhân.
Di vật
Hiện nay, đình Ngô Khê Hạ vẫn gìn giữ được nhiều di vật quý giá mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa như bát hương, hoành phi, câu đối, sắc phong cùng nhiều hiện vật khác. Những di sản này không chỉ phản ánh đời sống tín ngưỡng của cộng đồng qua các thời kỳ, mà còn là nguồn tư liệu quý báu phục vụ cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về di tích, lịch sử và con người của vùng đất này.
Xếp hạng
Di tích đình Ngô Khê Hạ được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia năm 2001.
Tài liệu tham khảo
- Đặng Xuân Bảng (1997), Sử học bị khảo, Nxb Văn hoá Thông tin.
- Lã Đăng Bật, Kinh đô Hoa Lư xưa và nay, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2009.
- Nguyễn Đại Đồng-Nguyễn Hồng Dương-Nguyễn Phú Lợi (2017), Lịch sử Phật giáo Ninh Bình, Nxb Tôn Giáo. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1997).
- Ngô Thì Sĩ (1997), Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Nxb Khoa học Xã hội.
- Di tích và Danh thắng Ninh Bình, tập 3, Nxb Văn hoá Dân tộc (2024).
- Hồ sơ di tích đình Ngô Khê Hạ, Tư liệu Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình.