Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Khê Hồi, có tên chữ là Hoa Lâm tự, tọa lạc ở đầu làng Khê Hồi, thuộc xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, Hà Nội (nay thuộc xã Hồng Vân, Thành phố Hà Nội). Đây là một tổ đình lớn của Thiền phái Lâm Tế tại miền Bắc Việt Nam, với lịch sử hình thành và truyền thừa lâu đời, đồng thời còn lưu giữ nhiều di vật quý giá.
Lịch sử và nhân vật
Theo bia Hoa Lâm tự bi chí dựng phía sau Tam Bảo, chùa vốn được xây dựng bởi người Minh, song chưa rõ cụ thể vào thời đại nào. Văn bia mô tả vị trí phong thủy: “Đây là mảnh đất rồng quay hổ cuộn. Bên trái ngọn Thiên Mã làm cánh bảo vệ; bên phải sông Kim Ngưu làm dải áo. Trong làng có chùa, ở bên cạnh đền thờ thần. Phía trước chầu sao Kim, phía sau hậu trẩm là sao Ấn…”. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng chùa được xây dựng vào cuối thời Hậu Lê, dưới niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (1762).
Người khởi công trùng tu và gắn liền sự phát triển của chùa là Hòa thượng Từ Niệm Tịch Chiếu (1748 – 1816), đệ tử của Tổ sư đời thứ tư Từ Phong Hải Quỳnh thuộc tổ đình Lâm Tế Liên Phái. Theo bia Nam mô A Di Đà Phật và Công đức bi ký (dựng năm Gia Long thứ 13, tức 1814), ngài đã tổ chức trùng tu toàn diện từ năm 1796 đến 1814, đồng thời mang pháp mạch Lâm Tế truyền vào vùng đất này. Các công trình cụ thể gồm: đúc hồng chung (1796), sửa Hậu Đường, Lầu Chuông, phòng xá, bếp (1797), trùng tu Thiêu Hương, Tiền Đường, Tam Quan (1809), và sơn thếp tượng Phật (1814).
Sau đó, các đời Tổ tiếp tục duy trì và mở rộng chùa:
Từ Hòa Chiếu Thường (1780 – 1840), đời thứ hai, đã cho đúc đại hồng chung (1820), xây hành lang tả – hữu (1824), trùng tu Thiêu Hương và Tiền Đường (1838). Theo Hoa Lâm tự bi chí, thời kỳ này còn tu sửa hai nhà trước – sau, mở cửa Hậu Đường, đào ao bát giác, hoàn thiện tổng thể quy mô.
Từ Đạt Chính Tín, đời thứ ba, năm 1858 đã góp 500 quan, kết hợp chư Tăng 300 quan để sửa chữa Tổ Đường bị hư hỏng từ 1857.
Thanh Quy, đời thứ sáu, theo Hoa Lâm tự bi chí (khắc năm Đồng Khánh thứ 2 – 1887), vào năm 1882 đã tổ chức sửa lớn: Tiền Đường, Hậu Đường, dựng thêm nhà, lầu chuông – trống, xây Hậu Đường thờ Tổ, sửa hành lang, làm tượng Phật, biển hiệu, tháp Tổ, nhà bếp…, giúp chùa trở nên khang trang, bề thế.
Hệ thống truyền thừa của chùa Khê Hồi gồm:
-
Tổ đời thứ nhất: Từ Niệm Tịch Chiếu (1748 – 1816).
-
Tổ đời thứ hai: Từ Hòa Chiếu Thường (1780 – 1840).
-
Tổ đời thứ ba: Từ Đạt Chính Tín (? – 1859).
-
Tổ đời thứ tư: Từ Khuê Thông Huyên.
-
Tổ đời thứ năm: Thịnh Châu Tâm Trúc.
-
Tổ đời thứ sáu: Từ Nhẫn Thanh Quy.
-
Tổ đời thứ bảy: Hòa thượng Thích Thanh Soạn (? – 1954).
-
Tổ đời thứ tám: Phúc Nghiêm Thích Thanh Chỉnh (1919 – 2008).
Sau Hòa thượng Thanh Soạn, đệ tử ngài trông coi chùa đến năm 1960. Giai đoạn 1970 – 1976, có sư Ni từ Hưng Yên về nhận chùa và giao lại cho đệ tử là Ni sư Đàm Tiến, trụ trì từ năm 1986 đến nay.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Khê Hồi mang kết cấu “Nội công ngoại quốc”, với nhiều hạng mục mang dấu ấn kiến trúc Lê – Nguyễn như Tam Quan, tiền Đường 7 gian, Thượng Điện 4 gian, hai dãy hành lang tả – hữu, nhà Tổ, vườn tháp với nhiều tháp mộ đá cổ,…
Hiện vật
Chùa Khê Hồi hiện còn lưu giữ:
-
1 đại hồng chung thời Nguyễn
-
1 chuông nhỏ
-
7 tấm bia đá niên đại Lê – Nguyễn
-
Một số ấn chỉ bằng gỗ
-
Khoảng 700 bộ ván khắc kinh Phật, được bảo quản trong hai tủ tại Tiền Đường.
Xếp hạng
Ngày 13 tháng 4 năm 2000, Bộ Văn hóa và Thông tin đã ban hành Quyết định số 06, xếp hạng Cụm di tích Đình – Chùa Khê Hồi là Cụm di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia.