Tiểu sử
Hiệp Hoà 協和 (1847-1883), húy là Nguyễn Phúc Hồng Dật 阮福洪佚, sau khi lên ngôi đổi thành Nguyễn Phúc Thăng 阮福昇, là vị hoàng đế thứ sáu của triều đại nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam.
Ông là em ruột của Tự Đức, thứ 29 và là con út của Thiệu Trị, mẹ là bà Đoan tần Trương Thị Thuận. Năm Tự Đức thứ 18 (1865), Hồng Dật được vua anh phong làm Lãng Quốc công 朗國公.
Trong khoảng thời gian trị vì ngắn ngủi của mình, ông chỉ sử dụng một niên hiệu là Hiệp Hòa nên thường được gọi theo tên này. Ông không có miếu hiệu, được hậu duệ truy tặng làm Văn Lãng Quận vương 文朗郡王, thụy là Trang Cung (莊恭). Thời gian trị vì của ông là 4 tháng 10 ngày tổng cộng 130 ngày.
Cai trị
Vua Dục Tôn không có con, nuôi 3 người cháu làm con nuôi: trưởng là Dục Đức, phong Thụy quốc công, thứ là ông Chánh Mộng, phong Kiến Giang quận công, ba là ông Dưỡng Thiện. Khi ngài sắp mất, có để di chiếu nói rằng:
Đức tính ông Dục Đức không đáng làm vua, mà ý ngài muốn lập ông Dưỡng Thiện. Nhưng vì ông ấy còn bé, mà việc nước cần phải có vua lớn tuổi, cho nên phải lập con trưởng. Ngài lại cho ông Trần Tiến Thành 陳進成, ông Nguyễn Văn Tường 阮文祥 và ông Tôn Thất Thuyết 尊室說 làm phụ chính.[1]
Được ba ngày thì ông Nguyễn Văn Tường và ông Tôn Thất Thuyết đổi tờ di chiếu, bỏ ông Dục Đức mà lập em vua Dực Tôn là Lang Quốc Công 朗國公 lên làm vua. Triều thần ngơ ngác, không ai dám nói gì, chỉ có quan ngự sử Phan Đình Phùng 潘廷逢 đứng dậy can rằng: “Tư quân chưa có tội gì, mà làm sự phế lập như thế, thì sao cho phải lẽ.” Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết truyền đem bắt giam ông Phan Đình Phùng lại, rồi cách chức đuổi về.
Lang Quốc Công, húy Hồng Dật 洪佚, lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp Hòa 協和. Còn ông Dục Đức thì đem giam ở Dục Đức giảng đường.
Bị phế truất
Mới lên ngôi, Hiệp Hòa đã có cử chỉ thân Pháp và cất nhắc những người hay công kích Tường, Thuyết. Hai ông này đã thấy rõ điều đó, nhưng vẫn làm thinh theo dõi, không nói gì cả.
Khoảng 4 tháng sau, một hôm Hiệp Hòa bỗng nhận được một tờ mật sớ của hai người tay chân là Hồng Phi Tham tri bộ Lại, con trai Tùng Thiện Vương và Hồng Sâm Sung biện nội các, con trai Tuy Lý Vương xin giết hai quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết.
Đọc xong tờ mật sớ đó, Hiệp Hòa liền phê: “Giao Trần khanh phụng duyệt” rồi bỏ vào một cái tráp giao cho viên thái giám Trần Đạt mang ra nhà Trần Tiễn Thành ở chợ Đình Ông. Lúc ấy đã chiều, Trần Đạt ra đến cửa Nhật Tinh thì gặp Nguyễn Văn Tường đi vào, Tường chặn Đạt lại hỏi thì Đạt đáp là đưa tráp sớ ra nhà Trần Tiễn Thành. Tường bèn giật lấy cái tráp dựng sớ và nói: “Ta cũng là phụ chánh, đưa đây ta xem cũng được”. Miệng nói tay mở tráp lấy xem, Tường hiển hẳn sắc mặt, sai lính hầu bắt Trần Đạt giam một nơi, còn chính mình lên xe gặp Tôn Thất Thuyết ngay.
Xem tờ sớ chưa xong, Tôn Thất Thuyết đã thét rất to: “Kéo quân đi giết chúng ngay!”. Sau mấy lời ôn tồn xoa dịu của Tường, hai người ngồi bàn bạc với nhau một lúc rồi cho mời các quan đại thần đến hợp ở bộ đường bộ Binh. Tại đây, sau khi Nguyễn Văn Tường kể ra tội trạng của Hiệp Hòa, Trần Tiễn Thành, Hồng Phi và Hồng Sâm âm mưu dựa vào Pháp hại giết hai phụ chánh đại thần có chứng cớ hẳn hoi. Tôn Thất Thuyết nói:
Tội trạng đã quá rõ ràng, không thể dung tha thứ được. Đề nghị các quan ký vào tờ sớ này để dâng lên đức Từ Dụ Hoàng thái hậu xin phế vua Hiệp Hòa lập người khác.[2]
Lấy chữ ký các quan xong, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thân hành vào cung Diên Thọ để dâng lên Hoàng thái hậu tờ sớ ấy, đồng thời sai Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Đê dẫn 50 người lính vào điện Cần Thành bắt buộc Hiệp Hòa phải: tự xử mình theo lệ “Tam ban triều điển” dành cho các đế vương, khanh tướng phạm tội tử hình.
Đoàn hành hình vào đến Cần Thành thì được hai viên thái giám đã nhận được mật lệnh rồi dẫn vào phòng ngủ của vua.
Bị đánh thức dậy bởi một đoàn người kề súng người gươm, Hiệp Hòa kêu lên một tiếng kinh hoàng rồi như một cậu bé chưa đủ trí khôn, tự cuộn mình lại trong chăn, lăn vào góc giường trong. Quân lính bèn ôm lấy vua gói gầm như vậy bỏ vào võng khiêng sang Dục Đức Đường. Tại đây trên một cái bàn con, người ta đã để sẵn ba thứ “tam ban triều điển”, gồm có một cây gươm, một sợi dây lụa và một bình thuốc độc.
Ông Ích Khiêm và Trương Đăng Đê liền quỳ xuống trước mặt Hiệp Hòa vừa khóc vừa nói:
“Vâng lệnh của Hoàng thái hậu và triều đình, xin đức ông chọn lấy một trong ba vật này mà tự xử đi.”
- “Chẳng hay ta có tội gì mà triều đình nỡ giết ta?”
- “Chúng tôi chỉ biết vâng lệnh trên chứ không hiểu sự chi khác” – Ông Ích Khiêm nói.
- “Vua tôi lúc biến, không biết làm sao” – Trương Đăng Đê vừa khóc vừa nói.
Một lúc lâu Hiệp Hòa cứ kêu oan, không chịu tự xử. Ông Ích Khiêm bèn gọi tất cả binh lính vào, ra lệnh: “Đức ông không muốn tự xử, thì chúng mày cứ việc làm cho tròn phận sự”.
Lập tức bọn lính đè cổ Hiệp Hòa xuống, kẻ chặn tay, người chặn chân, kẻ giữ miệng, người cạy răng, kẻ lấy bình thuốc độc rót vào miệng vào tai.
Một lúc sau Hiệp Hòa chết, lưỡi ra khỏi miệng!!!
Hôm ấy là ngày 29-11-1883, Hiệp Hòa làm vua được 4 tháng, thọ 36 tuổi, sử gọi là Phế Đế.
Đầu hàng thực dân Pháp
Tin rằng vấn đề Bắc Kỳ chỉ có thể giải quyết dứt điểm tại Huế, bộ chỉ huy Pháp đã lợi dụng việc hai phụ chính Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vừa phế bỏ và bắt giam vua Dục Đức để phô trương thanh thế.
Khi tướng Bouet đang bận chỉ huy bộ binh ở Bắc Kỳ, thì ngày 18/8/1883, đô đốc Courbet đem hạm đội Pháp tấn công cửa Thuận An. Trước hỏa lực mạnh mẽ của đại bác, triều đình Huế buộc phải xin đình chiến. Sau đó, Tổng ủy Harmand đến Huế thương thuyết, và ngày 25/8/1883, dưới triều vua Hiệp Hòa, bản Hòa ước Quý Mùi (còn gọi là Hòa ước Harmand) được ký kết. Theo hiệp ước này, Pháp đặt quyền “bảo hộ” trên toàn cõi Việt Nam, trực tiếp can dự vào cả nội trị lẫn ngoại giao. Thực chất, đây là sự đầu hàng và chuyển giao chủ quyền quốc gia cho thực dân Pháp.
Nhà sử học Nguyễn Thế Anh nhận định rằng Hiệp Hòa chủ trương theo đường lối thỏa hiệp, một chính sách bị coi là quá yếu nhược, và vì thế nhà vua đã bị buộc phải uống thuốc độc mà chết [10].
Trong Lịch sử Việt Nam (1858 – cuối thế kỷ XIX) cũng ghi rõ: sau Hòa ước Quý Mùi, phong trào phản đối sự nhượng bộ của triều đình càng lan rộng. Thế nhưng Hiệp Hòa vẫn nghe lời Khâm sứ De Champeaux, cử sứ giả ra Bắc triệu hồi các võ tướng đang trấn thủ về kinh. Hành động này bị coi là tiếp tục đầu hàng Pháp, gây thêm phẫn nộ. Tuy nhiên, mệnh lệnh ấy đều bị khước từ: Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Ngô Tất Ninh… kiên quyết không trở về mà vẫn ở lại phối hợp cùng nhân dân kháng chiến.
Cũng theo sách này, ngoài việc hạn chế quyền lực của hai phụ chính như Việt Nam sử lược từng chép, Hiệp Hòa còn có những bước đi khác khiến triều đình bất mãn: cử Tuy Lý vương làm đại diện trực tiếp làm việc với Tòa Khâm sứ Pháp, tự mình tiếp De Champeaux tại điện Văn Minh, nghe theo lời tâu của hai hoàng thân Hồng Sâm và Hồng Phi để tìm cách loại bỏ Tường và Thuyết [11]. Chính vì thế, hai phụ chính đã lập tức hành động, phế truất rồi bức tử Hiệp Hòa. Sau này, khi Khâm sứ De Champeaux phản đối việc đưa Kiến Phúc lên ngôi vì “trái với Hòa ước Quý Mùi”, Tôn Thất Thuyết liền tuyên bố hiệp ước đó hoàn toàn vô hiệu, bởi người ký kết – Hiệp Hòa – đã không còn tại vị.
Chú thích
- Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành, 1943, tr 274.
- Phạm Khắc Hòe, Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, 2001, tr 75-76.
Tài liệu tham khảo
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, tập 6, Nxb Giáo dục.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành
- Phạm Văn Sơn (1962), Việt sử tân biên, quyển 5, tập thượng, Sài Gòn.
___________________
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
Biography
Hiep Hoa (協和, 1847–1883), personal name Nguyen Phuc Hong Dat (阮福洪佚), changed upon accession to Nguyen Phuc Thang (阮福昇), was the sixth emperor of the Nguyen dynasty in Vietnamese history.
He was the younger brother of Tu Duc, the 29th and youngest son of Thieu Tri; his mother was Doan tan Truong Thi Thuan. In the 18th year of Tu Duc (1865), Hong Dat was granted the title Lang Quoc cong.
During his brief reign he used only one reign title, “Hiep Hoa,” by which he is commonly known. He received no temple name; descendants posthumously honored him as Van Lang Quan vuong, with the posthumous title Trang Cung. His reign lasted 4 months and 10 days—a total of 130 days.
Reign
Emperor Duc Tong left no heir and adopted three nephews as sons: the eldest, Duc Duc (titled Thuy Quoc cong); the second, Chanh Mong (titled Kien Giang quan cong); and the third, Duong Thien. In his testament he stated:
“Duc Duc’s virtue is unworthy of kingship; my intent is to enthrone Duong Thien. But he is still young, while the state requires an adult sovereign; therefore the eldest must be enthroned. I also appoint Tran Tien Thanh, Nguyen Van Tuong, and Ton That Thuyet as regents.”[1]
After three days, Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet altered the testament, deposing Duc Duc and enthroning Emperor Duc Tong’s brother, Lang Quoc cong. The court was stunned into silence; only the Censor Phan Dinh Phung remonstrated: “The crown prince has committed no crime; such deposition and enthronement—how can it be justified?” Tuong and Thuyet had Phan Dinh Phung arrested, dismissed, and expelled.
Lang Quoc cong, personal name Hong Dat, took the throne as Hiep Hoa. Duc Duc was imprisoned in the Duc Duc Lecture Hall.
Deposition
Soon after accession, Hiep Hoa showed a pro-French orientation and promoted critics of Tuong and Thuyet. They noticed but remained outwardly silent.
About four months later, Hiep Hoa received a secret memorial from two close associates—Hong Phi, Vice Minister of Personnel (son of Tung Thien Vuong), and Hong Sam, Cabinet Commissioner (son of Tuy Ly Vuong)—urging the execution of the two regents Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet.
Hiep Hoa annotated, “Deliver to Minister Tran for review,” placed it in a casket, and sent the eunuch Tran Dat to Tran Tien Thanh’s residence at Cho Dinh Ong. At dusk, at the Nhat Tinh gate, Tran Dat met Nguyen Van Tuong, who stopped him and asked his errand. Learning it was a memorial for Tran Tien Thanh, Tuong seized the casket: “I am also a regent; I may examine it.” He opened and read it, turned visibly grim, had Tran Dat arrested, and went to meet Ton That Thuyet.
Before finishing the memorial, Thuyet shouted, “Muster troops and kill them at once!” Calmed by Tuong, the two convened senior officials at the Ministry of War. There Tuong enumerated the crimes of Hiep Hoa, Tran Tien Thanh, Hong Phi, and Hong Sam—allegedly conspiring with the French to murder the regents—with “conclusive evidence.” Thuyet declared:
“The crimes are manifest and beyond pardon. Let the ministers sign this memorial to submit to Grand Empress Dowager Tu Du, requesting the deposition of Hiep Hoa and the enthronement of another.”[2]
With signatures collected, Tuong and Thuyet personally presented the memorial at Dien Tho Palace and ordered Ong Ich Khiem and Truong Dang De to lead fifty soldiers to Can Thanh Hall, compelling Hiep Hoa to “execute himself” according to the Tam ban trieu dien (three instruments of capital punishment reserved for emperors and high ministers).
Guided by eunuchs acting on secret orders, the squad entered the king’s bedroom.
Awakened to soldiers with guns and swords, Hiep Hoa cried out and, like a frightened child, curled under his quilt into the bed’s corner. Soldiers swaddled him in the quilt, carried him by palanquin to Duc Duc Hall, where three implements had been placed on a small table: a sword, a silken cord, and a vial of poison.
Kneeling in tears, Ong Ich Khiem and Truong Dang De said:
“By order of the Grand Empress Dowager and the court, please choose one of these and carry it out.”
“What crime have I committed that the court would kill me?”
“We only obey orders; we know nothing else,” said Ong Ich Khiem.
“In chaos between lord and subject, we do not know what to do,” cried Truong Dang De.
After prolonged pleading of innocence, he refused self-execution. Ong Ich Khiem summoned the soldiers: “If His Lordship will not act, fulfill your duty.”
They pinned him down—some held his hands and feet, some pried his mouth—then poured poison into his mouth and ears.
Soon Hiep Hoa died, his tongue protruding.
It was 29 November 1883. He had reigned four months and died at age thirty-six. The chronicles style him the Deposed Emperor.
Capitulation to the French
Believing the Tonkin question could be settled only at Hue, French commanders exploited the recent deposition and imprisonment of Emperor Duc Duc to display force.
While General Bouet commanded infantry in Tonkin, on 18 August 1883 Admiral Courbet attacked the Thuan An estuary. Under overwhelming naval artillery, the Hue court sued for a truce. High Commissioner Harmand then negotiated at Hue, and on 25 August 1883, under Hiep Hoa, the Quy Mui Treaty (Harmand Treaty) was signed. It established a French “protectorate” over all Vietnam, with direct interference in internal and external affairs—effectively surrendering and transferring national sovereignty to France.
Historian Nguyen The Anh judged Hiep Hoa’s policy as one of compromise—seen as too weak—leading to his being forced to drink poison.[10]
Lich su Viet Nam (1858–late 19th century) records that after the Quy Mui Treaty, opposition to the court’s concessions spread. Yet Hiep Hoa, following Resident De Champeaux, sent envoys north to recall frontier generals to the capital—viewed as further capitulation—arousing greater anger. Commands were refused: Hoang Ta Viem, Truong Quang Dan, Ngo Tat Ninh, and others remained to resist with the people.
The same work notes that beyond curbing the regents’ power (as Viet Nam Su Luoc records), Hiep Hoa took other steps that alienated the court: appointing Tuy Ly Vuong as direct liaison to the French Residency, personally receiving De Champeaux at Van Minh Hall, and heeding Hong Sam and Hong Phi to remove Tuong and Thuyet.[11] The regents promptly acted—deposing and forcing Hiep Hoa’s death. When De Champeaux later objected to Kien Phuc’s enthronement as violating the Quy Mui Treaty, Ton That Thuyet declared the treaty void since its signatory—Hiep Hoa—was no longer on the throne.
2. Tiếng Pháp (Fran.)
Biographie
Hiep Hoa (協和, 1847–1883), nom personnel Nguyen Phuc Hong Dat (阮福洪佚), devenu Nguyen Phuc Thang (阮福昇) lors de son avènement, fut le sixième empereur de la dynastie Nguyen.
Frère cadet de Tu Duc, vingt-neuvième et dernier fils de Thieu Tri, il avait pour mère la concubine Doan tan Truong Thi Thuan. En la 18e année de Tu Duc (1865), Hong Dat fut titré Lang Quoc cong.
Son règne, très bref, porta un seul nom d’ère, « Hiep Hoa », sous lequel on le connaît. Sans nom de temple, il fut plus tard anobli à titre posthume en Van Lang Quan vuong, avec le titre posthume Trang Cung. Règne total : 4 mois et 10 jours, soit 130 jours.
Règne
L’empereur Duc Tong étant sans héritier, il adopta trois neveux : l’aîné, Duc Duc (Thuy Quoc cong) ; le second, Chanh Mong (Kien Giang quan cong) ; le troisième, Duong Thien. Dans son testament, il stipula :
« La vertu de Duc Duc n’est pas digne du trône ; je souhaite établir Duong Thien. Mais il est trop jeune, et l’État a besoin d’un souverain adulte ; il faut donc établir l’aîné. Je nomme aussi Tran Tien Thanh, Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet régents. »[1]
Trois jours plus tard, Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet altérèrent le testament, déposèrent Duc Duc et élevèrent au trône le frère de Duc Tong, Lang Quoc cong. Le conseil, stupéfait, se tut ; seul le censeur Phan Dinh Phung protesta. Il fut arrêté, destitué et renvoyé.
Lang Quoc cong, de nom Hong Dat, monta sur le trône sous le nom d’ère Hiep Hoa. Duc Duc fut écroué au Pavillon d’étude Duc Duc.
Déposition
Peu après, Hiep Hoa afficha une inclination pro-française et promut des adversaires de Tuong et Thuyet. Ceux-ci observèrent sans réagir publiquement.
Quatre mois plus tard, Hiep Hoa reçut un mémoire secret de deux proches — Hong Phi, sous-ministre du Personnel (fils de Tung Thien Vuong), et Hong Sam, commissaire du Conseil (fils de Tuy Ly Vuong) — demandant l’exécution des deux régents.
Hiep Hoa visa : « Remettre à Tran pour examen », scella le mémoire et chargea l’eunuque Tran Dat de l’apporter chez Tran Tien Thanh. À la porte Nhat Tinh, Tran Dat croisa Nguyen Van Tuong, qui s’empara du coffret, lut le document, fit arrêter Tran Dat et rejoignit Ton That Thuyet.
À peine le mémoire parcouru, Thuyet s’écria : « Aux armes, tuons-les ! » Apaisé, il réunit avec Tuong les hauts mandarins au ministère de la Guerre. Tuong exposa les « crimes » de Hiep Hoa, Tran Tien Thanh, Hong Phi et Hong Sam—complot avec les Français pour assassiner les régents—avec « preuves ». Thuyet conclut :
« Les faits sont patents et impardonnables. Signons ce mémoire à la Grande Impératrice douairière Tu Du pour déposer Hiep Hoa et en établir un autre. »[2]
Signatures recueillies, Tuong et Thuyet présentèrent le mémoire au palais Dien Tho et dépêchèrent Ong Ich Khiem et Truong Dang De, à la tête de cinquante soldats, au pavillon Can Thanh, afin de contraindre Hiep Hoa à se donner la mort selon le Tam ban trieu dien (épée, corde de soie, poison).
Guidés par des eunuques, ils pénétrèrent la chambre royale.
Réveillé sous la menace, Hiep Hoa se roula dans sa couverture ; on l’emporta au pavillon Duc Duc, où reposaient l’épée, la corde et le poison.
À genoux, Ong Ich Khiem et Truong Dang De dirent en larmes :
« Sur ordre de la Grande Impératrice et de la cour, choisissez l’un de ces trois moyens. »
« Quel crime ai-je commis ? » — « Nous obéissons seulement. »
Il refusa longtemps ; alors les soldats l’immobilisèrent et lui versèrent le poison dans la bouche et les oreilles.
Il mourut peu après, la langue pendante.
C’était le 29 novembre 1883. Son règne avait duré quatre mois ; il avait trente-six ans. Les annales le nomment l’Empereur déposé.
Capitulation face aux Français
Estimant que la question du Tonkin se réglerait à Hue, les Français profitèrent de la récente déposition de Duc Duc pour exhiber leur force.
Tandis que le général Bouet opérait au Tonkin, le 18 août 1883 l’amiral Courbet attaqua l’embouchure de Thuan An. Sous le feu de l’artillerie, la cour demanda la trêve. Le haut-commissaire Harmand négocia à Hue et, le 25 août 1883, sous Hiep Hoa, fut signé le traité de Quy Mui (dit traité Harmand) : protectorat français sur tout le Vietnam, ingérence directe dans l’intérieur et l’extérieur—en réalité, capitulation et transfert de souveraineté.
L’historien Nguyen The Anh jugea la politique de compromis de Hiep Hoa trop faible, cause de sa mort par empoisonnement forcé[10].
Selon Histoire du Vietnam (1858–fin du XIXe siècle), après le traité, la contestation s’amplifia. Suivant le résident De Champeaux, Hiep Hoa rappela les généraux du Nord—perçu comme une reddition accrue ; les ordres furent refusés : Hoang Ta Viem, Truong Quang Dan, Ngo Tat Ninh, etc., restèrent combattre avec le peuple.
La même source ajoute qu’au-delà de la limitation des régents, Hiep Hoa prit d’autres mesures irritant la cour : charger Tuy Ly Vuong de traiter directement avec la Résidence, recevoir De Champeaux au pavillon Van Minh, et, suivant Hong Sam et Hong Phi, chercher à évincer Tuong et Thuyet[11]. Les régents agirent aussitôt : déposition puis mise à mort. Quand De Champeaux protesta contre l’avènement de Kien Phuc pour « violation du traité », Ton That Thuyet déclara le traité nul, le signataire—Hiep Hoa—n’étant plus régnant.
3. Tiếng Trung (中文)
生平
協和帝(1847–1883),名阮福洪佚,登基改名阮福昇,為越南阮朝第六位皇帝。
帝乃嗣德之弟,紹治第二十九子且為幼子,母為端嬪張氏順。嗣德十八年(1865),封朗國公。
在其短促在位期間僅用一個年號「協和」,故以此稱之。無廟號,後裔追封為文朗郡王,諡「莊恭」。在位四月十日,共一百三十日。
即位與政事
德宗無嗣,收三侄為養子:長為育德,封瑞國公;次為陳夢,封建江郡公;三為養善。遺詔曰:
「育德之德不足以君,朕意在立養善。然以其尚幼,而國事須成人君,是以當立長。並命陳進成、阮文祥、尊室說為輔政。」[1]
既三日,阮文祥、尊室說改遺詔,廢育德而立德宗之弟朗國公。群臣駭愕,唯御史潘廷逢抗言,被執下獄,罷斥歸里。
朗國公洪佚即位,建號協和;育德幽於育德講堂。
被廢與弒
協和初政,示親法之意,又擢用屢斥二輔之人。二輔知其情而陽默觀之。
四月後,協和得密奏:其腹心兩人——弘菲(吏部參知,崇善王之子)與弘參(內閣承辦,綏禮王之子)——請誅二輔阮文祥、尊室說。
帝批「交陳卿奉閱」,付內監陳達送至市亭翁之陳進成第。暮至日晶門,為阮文祥所遇,索視其牘,見之變色,執陳達下,急見尊室說。
未讀畢,尊室說大呼:「引兵即誅!」阮文祥勸解,遂集諸大臣於兵部。阮文祥歷數協和、陳進成、弘菲、弘參之罪,稱有實證通法謀殺二輔。尊室說曰:
「罪狀昭然,不可赦。請諸公具名上奏慈裕皇太后,廢協和,更立他人。」[2]
收諸臣署名後,二輔入奏延壽宮;並遣翁益謙、張登梯率兵五十入勤成殿,迫協和依「三班朝典」(刀、絹、毒)自裁。
內監導入寢室。
帝驚起,蜷伏被中,遂為兵以被裹之,舁至育德堂。案上已置「三班」:劍、綾、毒。
翁益謙、張登梯跪泣曰:「奉太后與朝命,請擇其一。」
帝曰:「予何罪而朝廷欲殺我?」對曰:「臣等奉命而已。」
帝久訴冤不從。翁益謙召兵曰:「不自裁,則行職責。」
兵遂按手足、撬口齒,以毒灌口入耳。
少頃卒,舌出。
是日光緒九年十一月二十九日(1883.11.29)。帝在位四月,年三十六,史稱「廢帝」。
對法妥協與條約
法軍以為北圻之事當決於順化,因育德方廢之機而張其勢。
光緒九年七月十八日(1883.8.18),海軍上將古柏(Courbet)率艦隊攻順安海口;重砲壓制之下,朝廷請戰止。後高級專員阿爾芒(Harmand)至順化議,於八月二十五日訂《癸未條約》(亦稱「阿爾芒條約」)。法國於全越行保護,內政外交皆得干預;實則向法屈服,移交主權。
史家阮世英評曰:協和主張妥協,為時論以為過弱,終被脅服毒而死。[10]
《越南史(1858—十九世紀末)》載:條約後,反讓運動漸熾。協和聽駐節德尚波(De Champeaux)之言,遣使北召諸鎮將還京,被指再度屈法,群情益憤;而諭命多遭拒絕,如黃佐炎、張光澹、吳必寧等堅守一線,合民抗戰。
又載:除限二輔權外,協和尚有諸舉致眾怒:命綏禮王直與法國欽使往來、親於文明殿見德尚波,並聽弘參、弘菲之計圖去二輔[11]。二輔遂急起行動,廢而逼死之。後德尚波以立建福「違癸未約」而難之,尊室說宣稱該約已失效,蓋署約者協和已不在位。