Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Quảng Bá hiện tọa lạc tại thôn Quảng Bá, phường Quảng An, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Quảng Bá vốn là một làng cổ có từ thời Lý – Trần, theo bài văn tế chữ Hán còn lưu giữ tại đình và lời kể của các bậc cao niên trong làng. Những dòng họ đầu tiên đến khai khẩn, lập nghiệp trên mảnh đất này là họ Hoàng và họ Lê; về sau mới có thêm các họ Ngô, Vũ, Nguyễn. Người dân Quảng Bá xưa chủ yếu sinh sống bằng nghề nông nghiệp, canh tác ruộng đồng và khai thác bãi bồi ven sông. Về sau, làng còn nổi tiếng với nghề trồng hoa, cây cảnh, cùng nghề truyền thống ướp chè sen. Cấu trúc cộng đồng trong làng được tổ chức thành ba giáp: Giáp Thọ, Giáp Lê và Giáp An.
Về mặt hành chính, Quảng Bá là một trong ba thôn thuộc xã Quảng An. Trước năm 1942, ba xã Nghi Tàm, Quảng Bá và Tây Hồ thuộc tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông. Sau năm 1942, cả ba xã nhập vào “Đại lý đặc biệt Hà Nội”. Trong những năm kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954), Quảng Bá cùng xã Nhật Tân hợp thành xã Quảng Tân. Đến năm 1955, ba xã thuộc quận Quảng Bá, ngoại thành Hà Nội. Năm 1961, đơn vị hành chính này đổi tên thành xã Quảng An, thuộc huyện Từ Liêm; đến năm 1996, xã Quảng An được nâng cấp thành phường Quảng An, thuộc quận Tây Hồ. Từ năm 2025, đình chính thức thuộc phường Tây Hồ.
Lịch sử và nhân vật
Theo thần phả, sắc phong, hoành phi, câu đối, văn bia bằng chữ Hán còn lưu giữ tại đình cùng với truyền thuyết dân gian, đình được xây dựng từ rất sớm để thờ Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng – vị anh hùng dân tộc thế kỷ VIII – cùng sáu vị thần khác: Phùng Thái Phó (tức Phùng Tá Chu), Phù chính Tá trị Khuông bình Vĩ liệt Quang ý đại vương, Minh Khiết thông duệ thuần chính quang túc tập phú cương nghị tối linh đại vương, Triều Đinh Cương nghị nhân duệ phổ tế hồng trạch thông minh công chính tối linh đại vương, Cẩn Giang thân nhân hậu trạch cương nghị quả đoán hùng uy đại vương, Tây Hồ thân nhân hậu trạch cương nghị quả đoán hùng uy đại vương., đều là những bậc công thần, hiền tướng có công lớn với đất nước. Các danh hiệu phong tặng cho họ đều nhấn mạnh đến đức hạnh, sự cương nghị, trung chính, quang minh và linh thiêng, tiêu biểu như “phù chính tá trị khuông bình vĩ liệt quang ý đại vương” hay “cương nghị quả đoán hùng uy đại vương”
Phùng Hưng được sử sách và truyền thuyết mô tả là người xuất thân trong dòng họ Hào trưởng giàu có, quyền thế ở Đường Lâm, cùng em trai Phùng Hải có sức khỏe phi thường, “có sức vật nổi trâu, đánh được hổ, cõng thuyền nặng đi hàng chục dặm đường”. Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa chống lại ách đô hộ nhà Đường vào nửa sau thế kỷ VIII, tận dụng thời điểm triều đình nhà Đường suy yếu và mâu thuẫn nội bộ. Khởi nghĩa giành thắng lợi, nghĩa quân chiếm Tống Bình, buộc viên đô hộ Cao Chính Bình phải tự tử. Sau khi ông qua đời, con trai Phùng An nối nghiệp và tôn xưng cha là Bố Cái Đại Vương. Để ghi nhớ công lao của ông, nhân dân Quảng Bá cùng nhiều làng trên tuyến đường hành quân đã lập đình thờ phụng và tôn ông làm Thành hoàng làng. Vì kiêng húy, tên gọi xưa là Quảng Bố được đọc chệch thành Quảng Bá.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), dân làng cho khắc bia đá thay cho thần phả bị rách. Văn bia không chỉ ghi lại sự tích họ Phùng, cuộc khởi nghĩa Đường Lâm và những chiến công lẫy lừng mà còn phản ánh sự tranh giành quyền lực giữa các hậu duệ Phùng An, Phùng Hải, Phùng Dĩnh. Đặc biệt, văn bia cũng cung cấp tư liệu về năm sinh – năm mất của Phùng Hưng (761–791), số lượng anh em trong gia tộc, góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử. Tại đình, còn nhiều câu đối ca ngợi công lao của Phùng Hưng, tiêu biểu là:
“Bắc khấu để bình, vạn cổ sơn hà khai quốc thống.
Nam bang hưng thịnh, triệu dân phụ mẫu ký nhân tâm.”
(Tạm dịch: Giặc Bắc dẹp yên, muôn thủa non sông khai quốc thống. Nước Nam hưng thịnh, muôn nhà phụ mẫu tạc lòng dân.)
Không chỉ gắn với thời kỳ dựng nước, đình Quảng Bá còn chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong thời hiện đại. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, đình là nơi cán bộ cách mạng hội họp, liên lạc, nhờ vị trí thuận lợi sát hồ Tây và gần các bốt Nhật Tân – Nghi Tàm. Sau khi giành chính quyền, đình được sử dụng làm nơi tổ chức mít tinh, hội họp, đặt trụ sở Ủy ban hành chính kháng chiến, mở lớp bình dân học vụ và tập trung dân quân tuần tra. Đặc biệt, ngày 29/9/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm nhân dân địa phương tại đình, căn dặn bà con thi đua lao động sản xuất, giữ gìn vệ sinh phòng dịch. Ngoài ra, nhiều lãnh đạo cấp cao như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Hoàng Anh cũng từng về thăm đình, khẳng định vai trò lịch sử – văn hóa đặc biệt của di tích này.
Như vậy, đình Quảng Bá không chỉ là nơi phụng thờ Thành hoàng làng và lưu giữ ký ức về cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng, mà còn là minh chứng cho truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng của nhân dân địa phương trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Quảng Bá là một công trình kiến trúc cổ có niên đại khởi dựng khá sớm, qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, trong đó đáng chú ý nhất là đợt trùng tu lớn vào năm Bảo Đại 11 (1936). Đến nay, ngôi đình vẫn giữ được quy mô bề thế với bố cục hoàn chỉnh gồm: cổng đình, sân gạch, hai nhà tả – hữu mạc, tòa đại đình và hậu cung, tạo nên tổng thể hài hòa trong không gian làng ven Hồ Tây.
Phía trước đình nhìn ra mặt nước Hồ Tây, tiếp đến là giếng đình hình vuông, tượng trưng cho sự giao hòa giữa trời và đất. Qua giếng là khu vườn nhỏ dẫn đến đường làng. Cổng đình được xây kiểu trụ biểu, trụ lồng đèn, đỉnh trụ đắp nổi hình chim phượng cách điệu, thân trụ có gờ nổi và khắc câu đối chữ Hán, biểu thị sự linh thiêng và trang nghiêm. Hai bên cổng chính còn có hai cổng phụ xây theo lối vòm cuốn, vừa tạo sự cân đối vừa thuận tiện cho việc đi lại.
Sân đình rộng rãi, lát gạch Bát Tràng, là nơi diễn ra các hoạt động cộng đồng và tế lễ. Hai nhà tả mạc và hữu mạc nằm đối xứng hai bên sân, mỗi dãy gồm sáu gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, vì kèo đơn giản theo lối kèo cầu. Đây là nơi hội họp của các giáp khi làng mở hội.
Tòa đại đình – trung tâm của quần thể – có quy mô bảy gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái ngói ta, bờ nóc đắp bờ đinh. Chính giữa bờ nóc có hình hổ phù đội mặt trời, hai đầu kìm đắp văn mây cách điệu thành hình rồng. Trước đại đình dựng hai trụ biểu kiểu lồng đèn, nền xây cao hơn sân 45cm, tạo sự bề thế. Bộ khung kiến trúc gồm sáu vì kèo làm theo kiểu “giá chiêng”, bên trong có sáu hàng cột gỗ tròn đặt trên chân tảng đá xanh mịn. Nền nhà lát gạch Bát Tràng. Trang trí tập trung vào chạm nổi hoa lá trên xà, đấu kê, đầu bẩy và các bức cốn nách, thể hiện nghệ thuật điêu khắc dân gian tinh tế.
Phía sau là tòa hậu cung gồm năm gian, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái ngói ta, trên bờ nóc đắp hình bầu rượu và cá hóa rồng – biểu tượng cho sự sung túc và linh thiêng. Hậu cung mở hai cửa nhỏ theo dạng vòm, vừa kín đáo vừa tạo sự uy nghiêm cho không gian thờ tự.
Tổng thể kiến trúc cảnh quan đình Quảng Bá vừa mang nét giản dị của đình làng Việt, vừa có sự uy nghiêm, tinh xảo trong chạm khắc và biểu tượng trang trí, phản ánh sự gắn kết giữa tín ngưỡng thờ Thành hoàng và đời sống cộng đồng qua nhiều thế kỷ.
Hiện vật
Hiện nay tại Đình Quảng Bá còn lưu giữ bộ sưu tập di vật có giá trị về lịch sử nghệ thuật như: một bản thần phả chữ Hán, 16 đạo sắc phong thần, trong đó sắc có niên đại sớm nhất năm Cảnh Trị thứ sáu (1670) sắc có niên đại muộn nhất là năm Khải Định thứ chín (1924).
Một tấm bia đá niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất (1841) ghi sự tích của Thành hoàng, bảy cỗ long ngai, bài vị chạm rồng và hai hương án thờ chạm thủng hình tứ linh (long, ly, quy, phượng) mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII, XVIII, một cỗ kiệu bát cống, một kiệu long đình thuộc thế kỷ XIX, bốn bức hoành phi, ba đôi câu đối, sơn son, hai bức võng cửa chạm rồng, một chuông đồng, một chiêng đồng cùng nhiều đồ thờ tự khác như bát hương, chóe sứ men lam, mũ áo hia thờ…
Lễ Hội
Lễ hội đình Quảng Bá là một trong những sinh hoạt tín ngưỡng – văn hóa truyền thống quan trọng của cư dân địa phương, được tổ chức theo lệ “xuân thu nhị kỳ”. Vào mùa xuân, hội diễn ra từ ngày 10 đến ngày 12 tháng Hai âm lịch, và vào mùa thu từ ngày 9 đến ngày 11 tháng Tám âm lịch. Ngoài ra, hằng năm làng còn làm lễ giỗ Đức Thánh vào ngày mồng 8 tháng Giêng, tưởng nhớ công lao của ngài.
Theo truyền thuyết, xưa kia Đức Phùng Hưng dấy cờ khởi nghĩa ở Đường Lâm, kéo quân về Tống Bình vây hãm thành, giành lại nền tự chủ cho đất nước. Khi quân của ngài đi qua Quảng An, dân làng đã đón rước và xin cùng theo ngài đánh giặc, khoảng vào các năm 766 – 791. Sau bảy năm trị nước, Phùng Hưng mất, được tôn là Bố Cái Đại Vương. Người dân vùng này lập đình thờ ngài cùng sáu bộ tướng, đồng thời có tục kiêng tên húy, từ “Quảng Bố” dần gọi chệch thành “Quảng Bá”. Ở đây, “bố” nghĩa là cha, “cái” cũng nghĩa là “cói” – mẹ.
Nghi lễ chính trong hội bắt đầu từ tám giờ sáng, khi đoàn người từ đình Quảng Bá tiến ra chùa Hoàng Ân (còn gọi là chùa Quảng Bá) lấy nước mưa tinh khiết để làm lễ mộc dục, xưa kia nước còn phải lấy từ giữa Hồ Tây. Sau đó, đoàn rước long trọng tiến hành nghi thức tế lễ. Sắc vua ban được rước trong long đình, có hai lọng và tám tán đi quanh rất tôn nghiêm, trong khi ba ngai thờ vẫn để yên tại hậu cung. Đi đầu đoàn rước là đội múa sư tử và múa rồng, trong đó sư tử có ý nghĩa dẹp đường, rồng lượn quanh long đình, tạo nên khí thế uy nghi. Đoàn còn có đội chấp kích, trường kiếm, đoản kiếm đi hộ vệ; tất cả đều chít khăn đỏ, áo nẹp, quần trắng, thắt lưng xanh, trông chỉnh tề và đẹp mắt.
Đặc sắc trong lễ hội là sự xuất hiện của ba đội thiếu nữ múa sênh tiền trong trang phục kim tuyến lấp lánh, ví như “bầy tiên nhỏ”, chia thành ba tốp đi sau các đoàn rước khác nhau. Các vị chức sắc, các bậc cao niên, cùng những cụ bà tham gia tế lễ đều trong trang phục trang trọng với quy định màu sắc riêng biệt, tạo nên không khí trang nghiêm nhưng cũng rực rỡ. Sau khi đoàn rước trở về đình, diễn ra các nghi thức dâng hương, dâng rượu, đọc chúc, hóa văn.
Trong đình còn lưu giữ bốn đôi câu đối sơn son thếp vàng ca ngợi công đức của Đức Thánh và nòi giống Tiên Rồng, tiêu biểu như:
Một bọc trăm trứng nên giống Tiên Rồng,
Thần linh Tây Hồ công cao đức lớn.
Sau phần lễ là phần hội, với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như đánh cò người, chọi gà… thu hút đông đảo dân làng và du khách khắp nơi về dự, làm cho lễ hội đình Quảng Bá vừa mang tính thiêng liêng, vừa thể hiện bản sắc văn hóa cộng đồng vùng ven Hồ Tây.
Xếp hạng
Đình Nha đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1990.
Tham khảo
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001