Xưa, vào đời Hùng Vương thứ 18, ở động Đản Thánh, châu Bố Chính1 có ông Lê Quốc Công húy là Tín Phệ, làm quan trong triều, vâng mệnh quản lãnh công việc trong lục bộ, được gả cho cháu gái trong hoàng tộc là công chúa Cần Nương. Sau công chúa mất sớm, điểm làm tráng sĩ chưa thông, ông bèn dâng sớ xin vua cho đi du lâm phong thủy chọn được đất lành thuộc địa phận ấp ta (tức phường Hồ Khẩu huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức-NC), dựng nhà để ở. Sau lại lấy Thánh mẫu Thục Nương phu nhân làm kế thất (vợ lẽ-ND).
Ông cùng với phu nhân cầu tự ở đền Đông Hải Vương. Đêm nằm mơ thấy có ông lão đầu bạc đọc thơ rằng:
Nhất thành khả cách đạt thiên quân,
Ứng hứa thần long tác thế nhân
Lê thị nhất bào song quỷ từ
Phù chỉ ư quốc hộ ư dân.(Lòng thành thấu đạt tới trời xanh,
Long thần được làm người nhân gian
Họ Lê một lần sinh hai quý từ,
Giúp cho đất nước, che chở dân).
Một hôm phu nhân chu chơi ở hồ Tây xem cá chép vây đó lấp lánh đùa rỡn sóng nước, trong lòng cảm động mà có thai. Tháng đó ông nằm mơ thấy có hai người mũ áo chỉnh tề, tới chắp tay nói rằng:
– Bọn thần thuộc Bộ Lễ ở Long cung phụng sắc chỉ đầu thai.
Ông giật mình tỉnh giấc, bỗng thấy trời đất tối đen, mưa gió ập tới, trong phòng khuê hương thơm tỏa khắp, điềm lành rực rỡ, lúc đó phu nhân sinh ra một bọc hai cậu con trai. Ông liền theo giấc mộng đặt tên cho người con trường là Cống Lễ, con thứ đặt tên là Cá lễ. Cống Lễ sinh ra đã cao 9 thước, tướng mạo đường hoàng, Cá Lễ sinh ra là người hàm yến râu hổ, tay dài quá gối, đều là bậc anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, có tài xuất chúng, có sức nâng đỉnh bạt núi.
Duệ Vương lên ngôi xuống chiếu tìm người có học vấn quảng bác, văn võ toàn tài, hai ông liền ra ứng [26] tuyển. Vua thấy nơi hai ông đứng, gió mát thổi quấn lấy người. Vua biết hai người này ắt là thủy thần xuất thế, bèn cho họ nhận chức Thị tòng.
Bấy giờ Vương mới gả Mỵ Nương cho Tản Viên Sơn thánh và muốn nhường ngôi báu cho Sơn thánh. Bấy giờ, Thục Vương bèn đem quân sang xâm lấn, Vương bèn lệnh cho hai ông chỉ huy thủy quân (Cống Lễ làm Tả chưởng quản; Cá Lễ làm Hữu chưởng quản-NC), lãnh Đại tướng quân lập tức theo sông Bạch Đằng nghênh đón dịch. Ở đồn lớn Mộc Châu, vua lại sai Tản Viên Sơn thánh dẫn đầu mang lục quân nghênh chiến. Hai đạo quân thùy, bộ cùng tiến đánh. Quân Thục thua to, bắt sống không biết bao tên.
Sau 2 năm Thục Vương lại tập hợp 100 vạn hùng binh, chia làm 5 đạo tiến vào cướp bóc nước ta. Vua phong cho hai ông làm Thủy Tề hầu, sai thống lãnh thủy quân, cùng hiệp lực với Tản Viên Sơn thánh tiến thẳng đến sào huyệt của giặc đánh lớn một trận. Quân Thục bỏ chạy tán loạn, quan quân truy đuổi đến tận biên giới mới trở về. Ngày khải hoàn, thuyền dừng lại ở bên sông Tô Lịch (tức nay là đoạn sông trước cửa đền Vệ Quốc-NC) [3a], chợt thấy trời đất tối sầm, gió thổi sóng cuồn cuộn, ánh cầu vồng đỏ như tia thép luyện từ trên trời giáng thẳng bắn vào thuyền. Hai ông bèn buộc lại dải mũ, vọng về cửa khuyết bái lạy. Trong chốc lát, bay lên trời mà hóa.
Các tướng trong đội thuyền trở về triều dâng biểu tâu lên vua. Vua ban cho mũ áo, sắc phong làm Thượng đẳng phúc thần, cho phép phường Hồ Khẩu phụng thờ (giáp Bắc thờ Cống Lễ Đại vương, giáp Đông thờ Cá Lễ Đại vương-NC). Xuân thu hai kỳ sai quan đến lễ tế, mãi làm thường lệ.
Sau vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) đi đánh Chiêm Thành có mật đảo ở đền, nhờ đó mà bình được giặc Chiêm. Vua gia phong cho thần hai chữ Linh ứng.
Đến thời Trần Thái Tông (1225 – 1231), Hưng Đạo Vương cùng đánh nhau với Ô Mã Nhi, Vương cầu đáo ở miều Triệu Vũ Đế. Nửa đêm nằm mơ thấy Vũ Để mệnh cho hai thần ở Hồ Khẩu theo hướng tây bắc đón địch. Hai tướng của nhà họ Trương theo hướng đông nam đón địch. Chẳng mấy chốc quân giặc phải bỏ chạy. Một đạo trở về đến hồ Tây thì hóa làm đôi rồng, một đạo ra từ sông Lục Đầu hóa làm hồ đen, rồi đều bay lên không.
Đến khi tỉnh giấc, vua lấy làm lạ. Đến khi đánh tan giặc mới thấy quả thực do thần giúp sức một trận đánh đã thành công, bèn thưa lên với triều đình ban tặng hai chữ Phụ quốc Tế thế.
Vào khoảng những năm Vĩnh Thọ triều nhà Lê (1658 – 1661), vỡ đê, phường Yên Phụ cho người đắp lại nhưng đắp đến đâu lại bị nước đánh trôi. Triều đình sai quan đến đền của vương cầu đảo, lũ lụt mới tạm dừng, bèn gia phong hai chữ Hiến ứng Uy linh.
Chú thích:
- Bố Chính: Tên một địa danh cổ, nay là các huyện Quảng Trạch, Tuyên Hóa, Bố Trạch, Minh Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình.
Nguồn: “Thần tích phường Hồ Khẩu”, ký hiệu AEa2/21, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.