Xưa, nước Nam mở vận, sao Ngưu, sao Đầu phân chia cương vực. Họ Hồng Bàng làm thánh tổ, lần lượt hưng khởi. Trải xem sự thuận tiện của hình thắng sông núi, họ Hồng Bàng bèn xây dựng kinh đô ở Hoan châu1, tu tạo cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Cha truyền con nối được hơn 2 nghìn năm, đều lấy hiệu là Hùng Vương.
Lúc đó Minh Lương Đại vương, Quang Hiển Đại vương tiên tổ là người xã Nội Trà, phủ Từ Sơn2, gia thế giàu có, làm hùng trưởng một phương. Cha là Nguyễn Danh3, mẹ là Lê Thị Trân, tuổi đã ngoài 40 mà chưa có con, trong lòng buồn phiền không vui, một hôm gặp đúng ngày giỗ tiên tổ, người cha than rằng:
– Cái nhà ta thiếu không phải là của cải, mà là con nối dõi, nếu một sớm mai về với tổ tông, phần mộ di chúc biết phó thác cho ai? Chẳng bằng cốt ở làm việc nhân nghĩa, việc người được sửa sang thì sau [lb] có thể quy ở số trời, hà tất khư khư giữ lấy tiền làm gì?
Ông bà bèn cho phát tán hết gia tài đi chẩn cấp cho người nghèo khó. Phàm các đền thờ thần, chùa Phật không chỗ nào là không cầu cúng. Một hôm, người vợ đến chùa hành hương trở về. Đến đêm, bỗng mộng thấy một ông già râu tóc bạc phơ, tướng mạo đường đường, ngồi ở trên nhà chính, có hai nhi đồng đứng hầu hai bên, ánh sáng rờ rỡ, mơ màng như có thần linh tuyên bố rằng:
– Nhà ngươi có nhiều đức ngầm, ta cho hai tiên đồng để làm quan hiển cửa nhà, còn lo gì hiếm muộn nữa.
Người vợ kinh ngạc tỉnh dậy, kể chuyện lại với người chồng. Ông cười hồi lâu rồi bảo:
– Ta cũng nằm mơ. Trong mơ thấy hai con gấu du dương nhảy múa uốn lượn ở đầu giường, chưa kịp nhớ hết. Ôi, gấu là điềm con trai, gia đình tích thiện, ắt có dư phúc.
Nhân đó mới ngâm một câu rằng:
Lưỡng đồng tiên đĩ triệu trình tường
Tảo giác ngô gia hậu khắc xương.(Hai đứa trẻ trước là báo hiệu điềm lành,
Sớm biết nhà ta về sau sẽ có vinh hiển.)
Từ đó trong lòng thầm vui. Người vợ sau quả có thai, đầy tháng sinh ra hai người con trai. Hai người vui mừng khôn xiết, lập đàn tràng tế cáo thiên địa thần phật, cho là trời xanh không phụ lòng thành, phúc hữu trùng lai.
Cha mẹ rất là yêu quý hai đứa con trai. Khi hai cậu con trai ba tuổi, tướng mạo khôi ngô, quả giống như hình dáng tiên đồng trông thấy trong giấc mộng ngày trước, ông cho là thần linh minh lượng, nhân đó đặt tên là Minh; thần linh quang hiến nhân đó đặt tên là Quang. Hai người con trai mới được 10 tuổi thì học lực đã thông suốt, võ nghệ dũng mãnh, mọi người đều khen. Than ôi, cuộc đời biến đổi không thể lường được. Cha mẹ nối tiếp qua đời, ba năm tang tế, gia tài dốc hết. Cả năm đói khát, không có sách gì nuôi thân. Hai anh em bèn than rằng:
Làm con trai thì phải đương đầu bốn phương, tang bồng hồ thỉ, da ngựa bọc thây, sao lại [2b] theo mãi việc bút nghiên làm gì?
Bèn làm lễ bái yết tông tổ phụ mẫu từ biệt quê hương, làng xóm đi khắp nơi. Hai anh em đi đến xã Khương Đình (sau đổi làm thôn Trung xã Khương Đình-NC) huyện Thanh Đàm (nay đổi là huyện Thanh Trì-NC) nhìn thấy ruộng đồng phì nhiêu, nhà nhà người người đều đủ đầy, bèn xin ở lại canh tác sinh nhai. Ngày ngày cùng với người làng giảng tập võ nghệ, cách dùng phù chú trong môn binh pháp (Lục giáp thần phù 六甲神符) không cái gì là không đầy đủ. Người làng kính phục, đều tôn nhường hai ông. Được khoảng hai năm, hai anh em nghe thấy ba ngọn núi Tản Viên, trời đất tạo dựng, huyền diệu tối linh, Sơn thánh có gậy trời, sách thánh, có nhiều thuật biến hóa, xưng hiệu là Thần vương, bèn đi đến cầu kiến.
Đi đến dưới núi, xin thánh tản vào bái yết, Sơn thánh thấy hai người tài năng tinh anh rất là khác thường, than rằng:
– Người anh, người em, sao lại gặp nhau muộn màng thế này?
Bèn sai người làm yến tiệc, ăn uống thết đãi rất trọng hậu, tình hữu hảo ngày càng thân thiết. Lúc đó, thiên hạ thái bình, [3a] quốc gia vô sự, Hùng Duệ Vương sinh hạ được người con gái tên là Mỵ Châu công chúa, hoa đào còn khép vì chưa được kỳ đẹp. Nhà vua lập lầu ở cửa thành Việt Trì, đề biển Tuyển tế lâu (Lầu kén rể) muốn cầu người hiền đức để nối ngôi.
Ngày hôm đó, thuyền bè tấp nập trên sông, ngựa xe đầu đường vừa nghe chiếu của thiên tử, thì trạng nguyên bốn phương đến ứng thí, người được mặt nọ lại mất mặt kia, chưa có ai có tài lớn, không có ai có thể xứng chỉ. Sơn thánh nghe thấy vui mừng hớn hở, cười rằng:
Ta không ở xa mà đến thì việc cầu người xe tơ, bỏ ta sao thích hợp đây?
Bèn mời hai ông đi theo đến trước lầu bái lễ. Vua ngự giá ở sông Bạch Hạc4, đem các khó khăn ra thử thách. Sơn thánh muôn kiểu biến hóa, phép thuật rất vi diệu. Vua mệnh gả Mỵ Nương cho. Sơn thánh sính lễ đầy đủ, rước công chúa về động trong núi.
Lúc đó, bốn biển thanh bình, đạo tặc yên ắng, Sơn thánh và hai ông đi săn bắn chu du khắp nơi, ngắm nghía núi sông. Phàm những nơi dừng xe đều lập hành cung, để nghỉ ngơi trên đường. Đi qua địa đầu Khương Đình, Thanh Đàm, kiến lập Tả hành cung, cho các quân sĩ nghỉ ngơi. Hai ông tâu rằng đây là làng mà trước đây từng ở, cùng làm điều lành. Sơn thánh bèn để hai ông ở đó, để úy dụ nhân dân. Hai ông và nhân dân đều vui mừng, khuyến khóa cày bừa, hun đúc thành phong tục tốt đẹp. Mọi người không ai không vui mừng.
Lúc đó, Hùng Vương sinh hạ được hai người con gái, không có người lập đích, không luyện võ bị, mải mê rong chơi. Thục Vương thừa thế gây hấn đến xâm lược, dấy đội hùng binh 30 vạn binh. Một đạo theo châu Quỳnh Nhai Sơn5. Một đạo theo hướng châu Minh Linh Bố Chính6. Một đạo theo cửa biển Hoan châu xuất quân. Tiến quân đi vang dội, biên thư báo về gấp rút. Nhà vua cùng hội bàn với đình thần, triệu Sơn thánh về hỏi kế sách. Sơn thánh tâu rằng:
Từ khi có nước đến nay đã được hơn hai nghìn năm, thánh hiền thi hành đức nhân, ân trạch rộng khắp, nước giầu binh giỏi. Thục Vương không biết tự giữ mình, dám xâm lăng xằng bậy. Cơ chuốc lấy bại vong đã rõ ràng. Thần nhọc sức thay thánh giá, tự chọn tướng tài, ắt là giữ được bình yên cho quốc gia.
Duệ Vương đồng ý. Sơn thánh tiến cử hai ông dũng lược kiêu hùng, có thể đương lấy một phía, Duệ Vương bầu làm Tiền phong Thống tướng, đốc tướng hai vạn binh sĩ, thẳng hướng đến núi Quỳnh Nhai mà tiến. Sơn thánh dẫn hai thần tả hữu làm người phụ trợ, lĩnh suất mười vạn hùng binh, từ động Lăng Sương chia đường cùng tiến. Quân của nhà vua đi đến đâu, thế như củi khô, quân Thục tuy đông mà không cứu kịp trở tay, chẳng ai dám xông ra nơi đầu trận. Những người chết không đếm hết được. Thục Vương thua chạy, Sơn thánh truyền lệnh cho ban sư7 dâng biểu báo cáo chiến thắng. Ngày khải hoàn, Duệ Vương đặt tiệc chúc mừng, luận công ban thưởng, đẳng cấp có thứ bậc khác nhau. Vua tôi cùng hưởng phúc lành.
Sau đó ba năm, Thục Vương viết thư xin hòa. Sơn thánh tâu rằng:
Nhà Thục trước đây là bộ chúa đất Ai Lao8, cùng là dòng giống họ nhà Hùng, chẳng bằng nhường ngôi cho nhà Thục. Thần có thuật biến hóa bay như tiên, nguyện được cùng với nhà vua, quân thần cùng được nước biếc non xanh, sinh sinh bất diệt, còn luyến tiếc gì cõi trần nữa đây?
Vua nghe lời ông, liền nhường ngôi cho nhà Thục. Thục An Dương Vương lên ngôi, cảm cái ơn giúp vương được nước, trùng tu cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh, chuẩn cho miễn trừ thuế ruộng đất, để làm đất hương hỏa. Dân đinh được làm dân tạo lệ, phụng thờ liệt thánh họ Hùng, để báo đáp đức độ của các thánh. Cùng với khảo rõ công thần đương thời, tên họ thế nào, đều gia ban làm phúc thần, sắc cho mỹ tự, sai sứ đến làng ấp xưa kia thần ở, lập miếu để phụng thờ. Trải đến các đời Đinh, Lê, Lý, Trần xây dựng cơ đồ, liệt thánh thường hộ quốc bảo dân, các triều đều gia phong Huyết Thực Phúc thần, muôn đời mãi còn, hương hỏa [5a] không dứt. Thật là tốt đẹp thay!
Phong thưởng:
Minh Lương Đại vương
Quang Hiển Đại vương
Phụng khai các tịch sinh, hóa, khánh hạ:
Ngày mồng 6 tháng Giêng là ngày sinh hai vị Đại vương.
Ngày mồng 10 tháng 2 là ngày hóa của Linh Ứng Đại vương.
Ngày 16 tháng 4 là ngày hóa của Quang Minh Đại vương.
Ngày 12 tháng 7 tịch lập miếu gia phong khánh hạ.
[56] Ngày 12 tháng 2, tịch khai sắc khánh hạ.
Ngày tốt tháng trọng thu (tháng 8) năm Hồng Phúc thứ nhất.
Lễ bộ Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày tốt tháng mùa hạ năm Vĩnh Hựu 2 (1736).
Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền phụng sao theo cựu chính bản.
Chú thích:
- Hoan châu: Hoan châu cũ từ thời nhà Hậu Lê tức Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay.
- Từ Sơn: Nay thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
- Chỗ này văn bản để trống 1 chữ.
- Sông Bạch Hạc: Nay thuộc thành phố Việt Trì, Phú Thọ.
- Núi Quỳnh Nhai: Trước thuộc châu Quỳnh Nhai, phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa. Nay thuộc tỉnh Sơn La.
- Châu Bố Chính: Là vùng lưu vực sông Gianh, ở mạn bắc tỉnh Quảng Bình. Châu Địa Lý là vùng lưu vực sông Nhật Lệ, ở mạn nam tỉnh Quảng Bình.
- Ban sư: Chỉ việc đem quân đội trở về.
- Ai Lao: Nay là Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Nguồn: “Hoàn Long huyện, Hoàng Mai tổng, Khương Trung xã thần tích”, ký hiệu AEa2/38, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.